Các bất lợi của đầu cơ


16-2-2013 (VF) – Mặc dù tạo ra một số ưu điểm đối với thị trường và nền kinh tế, các bất lợi mà đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ quá mức, tạo ra thường được coi là lớn hơn rất nhiều. Quan điểm truyền thống cho rằng, hai vấn đề nghiêm trọng nhất mà đầu cơ tạo ra trong nền kinh tế đó là bất ổn trong giá tài sản và bong bóng kinh tế.

Thường thấy trên các thị trường chứng khoán và hàng hóa phát triển, nhà đầu tư sẽ đặt cược (bet) về giá tương lai của tài sản, thông qua công cụ phái sinh.[1] Giá trị của phái sinh được xác định dựa vào giá của tài sản trên thị trường truyền thống (ví dụ, giá sẽ tăng hoặc giảm). Nếu nhà đầu tư mua một lượng lớn phái sinh tương lai ở một mức giá nào đó, hành động này sẽ gây ảnh hưởng đến mức giá thị trường. Khi nhà đầu cơ mua với khối lượng lớn tài sản hoặc hàng hóa tương lai ở mức giá cao hơn hiện tại sẽ khiến nhà sản xuất có hành vi găm hàng. Hậu quả là giá cả (hiện tại và tương lai) sẽ bị đẩy lên do lượng hàng hóa cung ứng bị giảm trên thị trường. Hiện tượng này chính là hiện tượng “tiên tri tự hoàn thành” đã bàn đến trong phần Bong bóng.

Đối với các thị trường tài sản vẫn ở mức thô sơ, thị trường hàng hóa phái sinh chưa hoạt động, nhưng hành vi đầu cơ trên các thị trường tài sản của một nhóm tham gia thị trường cũng có thể tạo ra nhu cầu hoặc hành vi bán ra ảo nhằm “dẫn dắt” các nhà đầu tư còn ít kinh nghiệm. Nhà đầu cơ có thể mua vào nhằm tạo ra khan hiếm tạm thời của một số loại tài sản như cổ phiếu với mục đích đẩy giá thị trường lên cao, khi đó họ sẽ bán ra nhằm thu lời. Hành vi đầu cơ cũng có thể được thực hiện khi các nhà đầu cơ, đặc biệt là nhà đầu cơ lớn hoặc tổ chức, bán ra tài sản và tuyên bố với thị trường rằng họ đã bán tài sản với kỳ vọng rằng toàn thị trường sẽ ồ ạt bán ra tài sản khiến giá tài sản bị hạ xuống. Lợi dụng cơ hội này, những bên tham gia bán khống sẽ mua vào với giá rẻ để trả nợ. Bán khống cũng là một hành vi được xếp vào nhóm hành vi đầu cơ. Thường thì những tuyên bố thông tin của nhà đầu tư lớn mới có ảnh hưởng đến thị trường, nhưng những nhà đầu tư nhỏ về mặt kỹ thuật cũng hoàn toàn có thể tham gia bán khống.

Bán khống (Short selling hay shorting) là nghiệp vụ trên thị trường tài chính được thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận thông qua giá chứng khoán giảm. Trên thực tế hầu hết các nhà đầu tư đều nhằm vào việc mua chứng khoán để chờ giá tăng lên trong tương lai, nhưng những người bán khống lại thu được lãi khi giá chứng khoán giảm xuống. Bán khống xuất hiện ở Anh từ thế kỉ thứ 18 và cũng là hình thức kinh doanh được cho phép ở các thị trường chứng khoán phát triển.

Theo Weiner (2002)[i], đầu cơ sẽ đẩy giá tiến xa khỏi các giá trị cơ sở, gây ra bong bóng hoặc lũng đoạn thị trường. Khi nhà đầu cơ không có đủ thông tin, họ tiến hành giao dịch dựa trên các sốc về cung và cầu bằng cách phán đoán dựa trên xu hướng quá khứ hoặc bằng cách quan sát hành vi của nhau (bầy đàn), thay vì dựa trên những thông tin cơ bản trên thị trường. Ngoài ra, rất nhiều tác giả khác cũng đã chứng minh mối liên hệ giữa đầu cơ và biến động giá trên các thị trường hàng hóa. Cụ thể, Masters (2008)[ii] đã chứng minh rằng, nhu cầu mua cực lớn từ các quỹ chỉ số đã tạo ra bong bóng trong giá cả hàng hóa và khiến giá dầu vượt quá xa khỏi giá trị cơ bản.


[1] Chứng khoán phái sinh – là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn mua hoặc bán (option) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Ngày nay khi thị trường chứng khoán biến động từng giây từng phút thì việc nắm trong tay những công cụ phái sinh là một biện pháp khôn ngoan để đối phó với rủi ro. Mặc dù chứng khoán phái sinh đã phổ biến trên thị trường các nước phát triển từ lâu, nhưng hiện tại thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có công cụ phái sinh. UBCKNN có dự định sẽ xây dựng khung pháp lý vận hành thị trường chứng khoán phái sinh trong năm 2013.


[i] Weiner, R.J (2002), Sheep in Wolves Clothing? Speculators and Price Volatility in Petroleum Futures, Quarterly review of Economics and Finance, Vol. 42, pp. 391-400.

[ii] Masters, M.W. (2008), Testimony before the Committee on Homeland Security and Government Affairs, U.S. Senate, May 20.

_______

* Nguồn: DHVP Research