Chi phí xã hội của sức mạnh độc quyền


3-2-2013 (VF) – Không có sự thất bại của thị trường, cân bằng cạnh tranh là hiệu quả. Mỗi ngành mở rộng sản lượng đến điểm ở đó giá bằng chi phí cận biên. Giá bằng lợi ích xã hội cận biên, chi phí cận biên bằng chi phí xã hội cận biên. Phân bổ lại tài nguyên không thể làm cho mọi người đều được lợi[1].

Khi ngành là cạnh tranh không hoàn hảo, mỗi hãng có một ít sức mạnh thị trường. Vì các đường cầu dốc xuống, giá cao hơn chi phí cận biên. Mỗi hãng sản xuất mức sản lượng ở đó giá cao hơn chi phí cận biên. Phần chênh lệch giữa giá và chi phí cận biên là sức mạnh độc quyền của hãng.

Giá và lợi ích xã hội cận biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng khi đó cao hơn chi phí xã hội và tư nhân cận biên của việc sản xuất ra đơn vị sản phẩm cuối cùng đó. Trên quan điểm xã hội, sản lượng của ngành là quá nhỏ. Việc mở rộng sản lượng sẽ phụ thêm vào lợi ích xã hội nhiều hơn là vào chi phí xã hội. Chúng ta đánh giá thiệt hại xã hội của sức mạnh độc quyền và sự phân bổ tài nguyên không hiệu quả như thế nào?

Chương 18 xem xét trường hợp độc quyền bán thuần túy. Chúng ta bắt đầu bằng một luận cứ tổng quát hơn về cạnh tranh không hoàn hảo. Các dạng trung gian của cạnh tranh không hoàn hảo cần một vài tính kinh tế của quy mô để giới hạn số hãng một ngành có thể hỗ trợ. Tuy nhiên, để đưa ra ý tưởng về chi phí xã hội của sức mạnh độc quyền thì bỏ qua tính kinh tế của quy mô sẽ tiện lợi hơn.

Điều gì xảy ra nếu một ngành cạnh tranh bị thôn tính bởi một hãng duy nhất mà sau đó hoạt động như một nhà độc quyền nhiều nhà máy. Trong Hình 17.1, trong cạnh tranh hoàn hảo LMC vừa là đường chi phí cận biên dài hạn của ngành vừa là đường cung của ngành. Với hiệu suất  không đổi theo quy mô, LMC cũng là đường chi phí trung bình dài hạn của ngành. Với đường cầu DD, cân bằng cạnh tranh ở B. Ngành cạnh tranh sản xuất sản lượng Q_C và ở giá P_C.

Hình 17.1 Chi phí xã hội của độc quyền bán

Hình 17.1 Chi phí xã hội của độc quyền bán

Ngành có đường chi phí trung bình và cận biên dài hạn nằm ngang. Ngành cạnh tranh hoàn hảo sản xuất ở B, nhưng nhà độc quyền bán đặt MR = MC để sản xuất chỉ Q_M ở giá P_M. Nhà độc quyền thu được lợi nhuận dư P_M P_C CA, nhưng có chi phí xã hội hay gánh nặng mất không bằng tam giác ABC. Giữa Q_M và Q_C lợi ích xã hội cận biên cao hơn chi phí xã hội cận biên và xã hội sẽ được lợi bằng việc mở rộng sản lượng đến Q_C. Tam giác ABC biểu thị xã hội được lợi bao nhiêu từ việc mở rộng này.

Bây giờ ngành trở thành độc quyền, sản xuất sản lượng Q_M và ở giá P_M, do đó làm cho chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên. Diện tích P_M P_C CA là lợi nhuận của nhà độc quyền từ bán Q_M ở giá cao hơn chi phí cận biên và chi phí trung bình. Tam giác ABC là thiệt hại xã hội của sức mạnh độc quyền bán. Ở Q_M, lợi ích xã hội cận biên của một đơn vị sản phẩm nữa là P_M nhưng chi phí xã hội cận biên chỉ là P_C. Xã hội sẽ muốn tăng sản lượng cạnh tranh lên đến điểm cạnh tranh ở B ở đó lợi ích xã hội cận biên và chi phí xã hội cận biên bằng nhau. Tam giác ABC là khoản lợi xã hội từ việc mở rộng sản lượng này. Bằng việc giảm sản lượng đến Q_M nhà độc quyền áp đặt chi phí xã hội ABC.

Đường cầu biểu thị lợi ích cận biên đối với người tiêu dùng của mỗi đơn vị sản phẩm và đường chi phí cận biên biểu thị nguồn lực bổ sung sử dụng để sản xuất ra mỗi đơn vị sản phẩm vì thế diện tích giữa DD và LMC đến mức sản lượng đó biểu thị tổng thặng dư phải chia giữa những người sản xuất và những người tiêu dùng.

[2]Trong Hình 17.1 ở mức sản lượng Q_M thặng dư sản xuất là hình chữ nhật biểu thị lợi nhuận và thặng dư tiêu dùng là tam giác DAP_M  bên trên nó. Sản lượng này là không hiệu quả vì nó không tối đa hóa tổng thặng dư và sản xuất tiêu dùng. Tổng đó được tối đa hóa ở Q_C ở đó diện tích giữa đường cầu và đường LMC là tối đa.

Thặng dư sản xuất (lợi nhuận) là chênh lệch giữa doanh thu và tổng chi phí. Tổng chi phí là diện tích dưới đường LMC cho đến sản lượng này[2]. Thặng dư tiêu dùng là tam giác biểu thị mức chênh lệch giữa lợi ích và chi tiêu của người tiêu dùng. Đó là diện tích dưới đường cầu ở sản lượng này, trừ hình chữ nhật chi tiêu.

Đối với nền kinh tế, chi phí xã hội của độc quyền bán được tìm bằng cách cộng các tam giác gánh nặng mất không như tam giác ABC đối với tất cả các ngành trong đó chi phí cận biên và doanh thu cận biên nhỏ hơn giá và lợi ích xã hội cận biên.

Chi phí xã hội của độc quyền bán là sự thất bại không tối đa hóa được thặng dư xã hội.

Chi phí xã hội của sức mạnh độc quyền bán có lớn hơn không? Các nhà kinh tế tin vào các lực lượng thị trường có xu hướng nghĩ nó nhỏ. Giáo sư George Stigler người được giải Nobel về kinh tế,  một lần đã mỉa mai rằng “các nhà kinh tế có thể phục vụ một mục đích hữu ích hơn nếu họ chữa cháy hay diệt mối thay vì độc quyền”[3].

Các nhà kinh tế khác lập luận rằng chi phí xã hội của độc quyền bán lớn hơn nhiều. Giáo sư Frederic Scherer, công trình nghiên cứu về cấu trúc ngành của ông đã được trích dẫn ở các chương từ 7 đến 9, lập luận rằng ở Mỹ chi phí xã hội của độc quyền bán là đủ lớn để  “thiết đãi tất cả các gia đình trên trái đất này một bữa tối thịt bò nướng ở một khách sạn tốt”[4]. Các giáo sư Keith Cowling và Dennis Mueller đã lập luận rằng chi phí xã hội của độc quyền bán có thể cao bằng 7% thu nhập quốc dân[5].

Ở sản lượng dưới mức hiệu quả, tam giác gánh nặng mất không biểu thị tổn thất về thặng dư xã hội.

Tại sao lại không thống nhất như thế? Thứ nhất, diện tích tam giá gánh nặng mất không ở HÌnh 17.1 phụ thuộc vào độ co giãn của đường cầu. Khi tính toán quy mô của các tam giác gánh nặng mất không trong độc quyền bán, các nhà kinh tế khác nhau sử dụng những ước lượng khác nhau về độ co giãn của cầu.

Thứ hai, chi phí phúc lợi của độc quyền bán không chỉ là tam giác gánh nặng mất không. Vì độc quyền đem lại lợi nhuận cao cho hãng, nên hãng chi nhiều cho việc đạt được và giữ vị trí độc quyền. Hộp 15.1 cung cấp nhiều chi tiết hơn về lý do tại sao “rent – seeking” lại là lãng phí về mặt xã hội.

Tương tự, các hãng dành những số lượng lớn các nguồn lực để cố gắng gây ảnh hưởng đến chính phủ theo cách tăng cường hoặc duy trì sức mạnh độc quyền bán của họ. Họ cũng có thể cố tình duy trì công suất bổ sung để tạo ra mối đe dọa làm tràn ngập thị trường nếu người gia nhập tiềm năng gia nhập ngành. Về mặt xã hội, các nguồn lực dành cho việc vận động hành lang chính phủ hay duy trì công suất thừa nhìn chung là lãng phí.

Hình 17.2 Độc quyền thông tin

Hình 17.2 Độc quyền thông tin

Nhà độc quyền với thông tin bên trong về chi phí có thể cho phép LMC tăng lên đến LMC’ và sản xuất ở E’. Ngành cạnh tranh sẽ sản xuất ở E và bộc lộ chi phí là LMC.

Phân tích kinh tế hiện đại cũng nhấn mạnh vai trò của thông tin. Những người điều hành độc quyền có các thông tin bên trong về chi phí cơ hội thực của hãng. Họ biết nhiều hơn các cổ đông hay các nhà điều tiết. Các nhà kinh tế đôi khi gọi đó là “sự sao nhãng quản lý” hay “không hiệu quả X”. Thiếu sự cạnh tranh tạo cho hãng “độc quyền thông tin” về các khả năng chi phí của mình. Những người ở bên ngoài không thể thấy.

Hãng cạnh tranh trở nên lười biếng thì sẽ mất thị phần và phải rời bỏ kinh doanh. Khi độc quyền trở nên lười biếng thì đơn giản nó tạo ra lợi nhuận chỉ ít hơn một ít. Trên quan điểm xã hội, các đường chi phí của nó không nhất thiết phải cao. Xã hội chi nhiều nguồn lực hơn để tạo ra sản lượng này so với trường hợp không hiệu quả X bị loại bỏ.

Trong Hình 17.2, LMC là chi phí cận biên của hãng hiệu quả về chi phí. Nhà độc quyền lấy lợi thế về độc quyền thông tin của mình để hưởng thụ cuộc sống dễ dàng và có các chi phí cao hơn LMC’. Giả sử nhà độc quyền bị chia nhỏ ra thành các hãng giống nhau (có thể, nếu có hiệu suất không thay đổi theo quy mô). Sự cạnh tranh giữa các hãng không chỉ buộc mỗi hãng đặt giá bằng chi píh cận biên, mà còn bộc lộ sự sao nhãng quản lý và buộc các hãng đạt đường chi phí thấp hơn LMC. Nhà độc quyền sản xuất ở  ở giá . Ngành cạnh tranh sản xuất ở   ở giá  . do đó nền kinh tế chuyển từ E’ đến E. Lợi ích xã hội lớn hơn tam giác E’FG.

Ở sản lượng độc quyền , thặng dư tiêu dùng cao hơ cái mà họ trả là PJE’. HFE’  là lợi nhuận công bố của nhà độc quyền. KFH  là lợi nhuận giấu đi mà nhà độc quyền làm cho cuộc sống của mình dễ dàng hơn, và O K  là những chi phí mà thậm chí một hãng hiệu quả cũng phải chịu.

Hộp 17-3 Tính kinh tế của quy mô và cạnh tranh
Thông tin di động 3G đã báo trước tương laic ho thông tin di động công nghệ cao. Khả năng tải xuống các bài hát, nhận những tin video cập nhật và nói bằng video tất cả đều có thể. Thật ngạc nhiên, người ta rất ít nói về khả năng kỹ thuật về việc cung cấp các cuộc đàm thoại ở giá tiết kiệm 80% đối với các mạng 3G hoặc đường điện thoại cố định.
Vấn đề tựu trung là quy mô và cạnh tranh. Để có thể có được 22,5 tỷ £ trả cho giấy phép 3G ở Liên hiệp Anh và xây dựng mạng lưới cơ sở hạ tầng, tính kinh tế của quy mô là cực kỳ hữu ích. Thực tế là một số nhà cung cấp di động đạt được tính kinh tế của quy mô từ việc họ sở hữu mạng cố định có nghĩa là họ có ít động cơ để bắt đầu cuộc chiến tranh giá cả về các cuộc đàm thoại. Điều này là đáng buồn vì các cuộc đàm thoại ở châu Âu được dự báo là tăng thêm 57% vào năm 2009 đến 1300 phút một nămNguồn: Investors Chronicle, 28 May 2004.

Khi cân bằng chuyển từ E’ đến E, lợi nhuận xã hội bổ sung cả hai tam giác E’KE. Bây giờ với ngành cạnh tranh và đường chi phí LMC, tổng thặng dư tiêu dùng là JEP_C , khoảng cách giữa đường cầu và hình chữ nhật OQ_C EP_C mà những người tiêu dùng thực sự trả. Lưu ý rằng hình chữ nhật HFCP_C  thực sự đã được phân phối lại từ nhà độc quyền lười nhác sang những người tiêu dùng một khi xã hội phát hiện ra rằng các chi phí là LMC và các giá tương ứng.

Ở một chừng mực nào đó chúng ta giả định nhà độc quyền là “những con mèo béo” lười. Phải mất các nguồn lực (nỗ lực, đầu tư,v.v…) để hạ thấp chi phí, lợi ích thu được từ xóa bỏ độc quyền nhỏ hơn so với ở Hình 17.2 những vẫn lớn hơn tam giác E’FG.

Vì những lý do này, mức độ chính các của chi phí xã hội của độc quyền vẫn là vấn đề đang tranh luận. Tuy nhiên, ít chính phủ tin rằng chi phí xã hội của độc quyền có thể bị bỏ qua.

Độc quyền phân biệt giá

Chi phí xã hội của độc quyền phát sinh vì nhà độc quyền không thể phân biệt giá. Phân biệt giá hoàn hảo làm cho đường cầu và đường doanh thu cận biên trùng nhau – bán những đơn vị  mới không đẩy giá của các lượng đang bán xuống. Khi đó, giá là doanh thu cận biên và vì thế bằng chi phí cận biên. Nhà độc quyền sản xuất ở mức sản lượng hiệu quả về mặt xã hội.

Phân biệt giá có thể thực hiện được chỉ trong các hoàn cảnh đặc biệt. Những người tiêu dùng phải không có khả năng tạo ra thị trường bán lại. Phân biệt giá có thể thực hiện được chỉ khi nào người sản xuất có thể thiết lập các thị trường nhỏ riêng biệt. Phân biệt giá trong các dịch vụ dễ hơn vì việc bán lại là không thể: dịch vụ được tiêu dùng ở điểm nó được tạo ra. Phân biệt giá bởi các nhà độc quyền lớn đôi khi bị ngăn cản bởi “đòi hỏi dịch vụ thống nhất” về mặt pháp lý buộc nhà độc quyền phải cung cho tất cả các nơi trong nước cùng một giá (ví dụ như chuyển thư) mặc dù chi phí giao hàng ở các vùng nông thôn cao hơn nhiều.

Phân phối lợi nhuận độc quyền

Xã hội không chỉ quant âm đến tính kém hiệu quả của cạnh tranh không hòa hảo. Xã hội có thể còn quan tâm đến hai khía cạnh khác của sức mạnh độc quyền bán: sức mạnh chính trị mà các công ty lớn có, và vấn đề công bằng trong phân phối các khoản lợi nhuận lớn mà nhà độc quyền có thể thu được.

Lợi nhuận độc quyền là thuế tư nhân. Xã hội có nên khoan dung với nó không? Những người cuối cùng nhận được lợi nhuận độc quyền là các cổ đông của nhà độc quyền. Phần lớn thị trường chứng khoán được nắm giữ bởi các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm mà cuối cùng thanh toán cho các công nhân. Một phần lợi nhuận độc quyền đến với những người nghèo nhất, nhưng phần lớn thì không.

Giả sử rằng chính phủ đánh thuế lợi nhuận: điều này có ảnh hưởng đến quyết định sản lượng của nhà độc quyền ? không ! ở bất kỳ thuế suất nào dưới 100%, cách tối đa hóa lợi nhuận sau thuế cũng giống như tối đa hóa lợi nhuận trước thuế. Với một thuế nhất định, lợi nhuận trước thuế cao hơn phải làm tăng lợi nhuận sau thuế. Vì thế nhà độc quyền sản xuất mức sản lượng đúng như khi không có thuế lợi nhuận và vẫn gặp đường cầu đó, sẽ đặt giá đúng như trước[6].

Nhà độc quyền không thể dịch chuyển thuế sang một ai đó khác. Chính phủ có thể đánh thuế lợi nhuận của nhà độc quyền bao nhiêu cũng được mà không ảnh hưởng đến hành vi của nhà độc quyền, ít nhất là trong ngắn hạn.

 Nhà độc quyền có thể có chi phí chìm trong quá khứ, thông qua R&D hay xây dựng nhà máy. Nhìn từ hiện tại, các chi phí này đã phải chịu và là quá khứ. Vị trí của các đường chi phí này không phụ thuộc vào việc chính phủ có đánh thuế lợi nhuận độc quyền hay không. Tuy nhiên, nếu hãng biết rằng lợi nhuận là đối tượng của “thuế bất ngờ”, nhà độc quyền sẽ không bao giờ chịu các chi phí R&D cao ngay từ đầu.

Mọi loại thuế bất ngờ có thể mất hết lợi nhuận độc quyền mà không có các tác động bất lợi đến hiệu quả[7]. Tuy nhiên, kỳ vọng áp dụng thường xuyên các loại thuế như vậy làm suy giảm các động cơ đầu tư. Chi phí khi đó sẽ cao hơn với mức cần thiết.

Tự do hóa có giúp được không?

Bây giờ bạn có thể giả định rằng cạnh tranh luôn luôn tốt hơn. Nhưng ở Chương 15 chúng ta đã đưa ra lý thuyết tốt cái nhì. Bắt đầu từ một tình trạng bị bóp méo, loại bỏ tất cả các thất bại của thị trường sẽ luôn luôn làm tăng hiệu quả. Nhưng bỏ một phần hay giảm bớt đôi khi làm cho mọi thứ tồi tệ hơn; đôi khi hai sự bóp méo lại bù trừ chon hay một phần nào đó. Loại bỏ một sẽ làm cho cái còn lại tồi tệ hơn.

Đây là ví dụ thứ nhất. Không giống như ở Hình 17.1 và 17.2, giả sử rằng có tính kinh tế của quy mô rất lớn và đường chi phí trung bình giảm dần. Độc quyền là xấu vì những lý do đã nêu ra trước đây, nhưng ít nhất nó sản xuất ở quy mô lớn làm cho xã hội được lợi từ tính kinh tế của quy mô. Giả sử rằng chính phủ đòi tăng cường cạnh tranh hơn nữa, chẳng hạn cần sự gia nhập của người sản xuất thứ hai. Chia thị trường ra, cả hai hãng đều không gặt hái được tính kinh tế của quy mô. Cạnh tranh nhiều hơn có thể làm giảm độc quyền thông tin (chúng ta có thấy các hãng khác đặt giá bao nhiêu), buộc phải chi nhiều hơn vào việc giảm chi phí để dịch chuyển các đường chi phí xuống dưới. Nhưng nếu tính kinh tế của quy mô đủ lớn, cả hai nhà sản xuất vẫn có chi phí cao hơn nhà độc quyền ban đầu. Xã hội có thể thiệt hơn vì nó phải dùng nhiều nguồn lực hơn vào sản xuất.

Ví dụ thứ hai gọi là hớt váng.

Hớt váng là giới hạn việc gia nhập vào những thành phần kinh doanh có lợi, nhờ đó làm suy giảm tính kinh tế của quy mô ở nơi khác.

Giả sử độc quyền bưu điện cung cấp dịch vụ thống nhất; nó phải giao bưu phẩm khắp Liên hiệp Anh với cùng một giá. Một người gia nhập tư nhân sẽ muốn giao các gói bưu phẩm có lợi ở các thành phố chứ không phải là các gói bưu phẩm không có lợi đến các vùng nông thôn xa xôi. Nếu cho phép ăn những miếng kem hớt có lợi như thế sẽ làm giảm tính kinh tế của quy mô của người sản xuất ở những vùng khác và thậm chí có thể gây nguy hiểm đến toàn bộ hoạt động đó.

Với sự mô tả ngắn gọn về sức mạnh thị trường, bây giờ chúng ta có thể hiểu rõ hơn vai trò của chính sách cạnh tranh.

 


[1] Trước năm 1999, Ủy ban Cạnh tranh gọi là Ủy ban Độc quyền bán và Sáp nhập.

[2] Diện tích dưới đường LMC thực tế biểu thị tổng chi phí biến đổi. Vì thế, thặng dư sản xuất bằng lợi nhuận chỉ phi chi phí cố định bằng không. Trong dài hạn, tất cả chi phí đều là chi phí biến đổi vì thế thặng dư sản xuất đúng bằng lợi nhuận. Trong ngắn hạn, thặng dư sản xuất bằng lợi nhuận trừ đi chi phí cố định.

[3] Trích dẫn trong J.Siegfried và T. Tieman, “Chi phí phúc lợi của độc quyền bán: Một phân tích liên ngành”, Economic Enquiry, 1974.

[4] Trích dẫn trong J.Siegfried và T. Tieman, sách đã dẫn.
[5] K.Cowling và D.Meuller, “Chi phí xã hội của sức mạnh độc quyền bán”, Economic Journal, 1978.
[6] Vì tối đa hóa lợi nhuận hàm ý là MC = MR, nên sản lượng được điều chỉnh cho đến tận khi lơi nhuận cận biên của đơn vị cuối cùng bằng không. Vì thế đánh thuế lợi nhuận không có ảnh hưởng đến điều kiện cận biên hãng sử dụng để tìm mức sản lượng tối ưu.
[7] Năm 1997, Chính phủ mới của Công đảng đã đánh thuế thu một lần đối với lợi nhuận của ngành công ích tư nhân hóa, lập luận của họ cao hơn kỳ vọng vào thời gian tư nhân hóa chúng.

* David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (GV ĐHKTQD dịch), 2008, Kinh tế học, NXB Thống kê.
* Phần trước: Địa lý kinh tế
* Phần sau: Chính sách cạnh tranh