Chỉ số căn bản kinh tế Trung Quốc 2012


25-2-2013 (VF) – World Factbook công bố các chỉ số căn bản kinh tế Trung Quốc 2012 như sau.

Chỉ Số Căn Bản Kinh Tế Trung Quốc 2012

GDP (tỷ giá chính thức) 8.250 tỷ USD
(xếp thứ 03 thế giới)
Tăng trưởng 7,8%
(xếp thứ 16 thế giới)
GDP bình quân đầu người (PPP) 9.100 USD
(2011: 8.500 USD; 2010: 7.800 USD)
GDP theo khu vực kinh tế Nông nghiệp: 9,7%
Công nghiệp: 46,6%
Dịch vụ: 43,7%
Lực lượng lao động 795,4 triệu người
Nông nghiệp: 36,7%
Công nghiệp: 28,7%
Dịch vụ: 34,6%
Tỷ lệ thất nghiệp 6,4% (xếp thứ 67 thế giới)
(2011: 6,5%)
Hệ số Gini về phân phối thu nhập 48/100 (năm 2009 xếp thứ 27 thế giới)
(2007: 41,5/100)
Tỷ lệ đầu tư so với GDP 45,9% GDP
(xếp thứ 03 thế giới)
Thâm hụt ngân sách - 2,3% GDP
(xếp thứ 81 thế giới)
Tỷ lệ nợ công so với GDP 38,5% (2011)(xếp thứ 95 thế giới)
Lạm phát 3,1%(2011: 5,5%)
Xuất khẩu 2.021 tỷ USD (xếp thứ 02 thế giới)
(2011: 1.899 tỷ USD)
Nhập khẩu 1.780 tỷ USD (xếp thứ 03 thế giới)
(2011: 1.740 tỷ USD)
Dự trữ ngoại hối và vàng 3.549 tỷ USD (xếp thứ 01 thế giới)
(2011: 3.213 tỷ USD)
Tỷ giá RMB/USD 2012: 6,3110
2011: 6,4615
2010: 6,7703
2009: 6,8314
2008: 6,9358

Thông số kinh tế cơ bản của TQ cho thấy một vài điểm nổi bật(*):

1- Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế có quy mô lớn thứ ba thế giới (sau Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ) và vẫn có tốc độ tăng trưởng cao dù không còn duy trì được mức hai con số.

2- Bất bình đẳng về phân phối thu nhập ở Trung Quốc ngày càng lớn dù GDP bình quân đầu người vẫn được cải thiện qua từng năm. Vấn đề này đang trở nên trầm trọng và là một nguyên nhận trực tiếp dẫn tới bất ổn và gia tăng mâu thuẫn xã hội.

Chỉ số Gini của Trung Quốc

Chỉ số Gini của Trung Quốc

Đầu T2.2013, chỉ vài tuần trước thời điểm chuyển giao quyền lực lãnh đạo, kế hoạch quốc gia về điều chỉnh phân phối thu nhập đã được đưa ra thảo luận tại Quốc hội TQ. Kế hoạch này đặt mục tiêu tới năm 2020 thu nhập bình quân của hộ gia đình TQ sẽ tăng gấp hai lần mức thu nhập của năm 2010. Quan trọng hơn, các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình sẽ có mức tăng trưởng cao hơn nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.

Kế hoạch này được giới phân tích Phương Tây đánh giá rất có triển vọng và nếu thực hiện thành công sẽ là sự thúc đẩy lớn lao với nhu cầu nội địa – vốn là động lực của quá trình chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu và đầu tư (chủ yếu là đầu tư công) sang tăng trưởng dựa trên sức tiêu thụ trong nước. Thực thi kế hoạch này được xem như sứ mạng của đội ngũ lãnh đạo mới của TQ.

BCG (the Boston Consulting Group) ước tính với quy mô 130 triệu người tiêu dùng trung lưu, trong điều kiện tăng trưởng GDP đạt 7%/năm và RMB tăng giá bình quân 3% trong những năm tới, tiêu dùng nội địa của Trung Quốc sẽ nhanh chóng đặt tới quy mô bằng 50% giá trị tiêu dùng của Hoa Kỳ vào năm 2015 và 80% vào năm 2020.

3- Hoạt động thương mại đặc biệt quan trọng với kinh tế Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2012 đạt 3.801 tỷ USD, tương đương 46% GDP và đạt mức tăng trưởng 4%.

Tuy nhiên, thặng dư thương mại của TQ đã giảm từ mức trên 10%GDP của năm 2007 xuống còn 2,8% vào năm 2011. Trong khi đó, nhập khẩu của TQ được ước tính sẽ có mức tăng trưởng 27%/năm trong giai đoạn 2011-15. Có thể thấy, mức độ lệ thuộc của tăng trưởng kinh tế vào xuất khẩu đã giảm đi đáng kể.

4- Trước sức ép của các đối tác thương mại, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU, đòi hỏi tăng giá đồng Nhân dân tệ (RMB), TQ đã từng bước điều chỉnh tỷ giá. Tính từ năm 2008 đến hết năm 2012, RMB đã tăng giá gần 10% – từ 6,9358 RMB đổi 1 USD (2008) lên 6,31 RMB (2012).

  • Đồng RMB tăng giá được kỳ vọng sẽ kích thích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu của TQ. Tuy nhiên, so sánh số thống kê các năm 2011 và 2012 có thể thấy giá trị nhập khẩu chỉ tăng 2% (mức tăng thêm: 40 tỷ USD) trong khi xuất khẩu tiếp tục tăng 6% (mức tăng thêm: 122 tỷ USD). Như thế, mục tiêu tăng giá RMB để kích thích tiêu dùng nội địa chưa đạt được.
  • Trong suốt thời kỳ dài có tích lũy thặng dư thương mại, Chính phủ TQ đã sử dụng biện pháp in thêm tiền RMB để mua USD, tăng tích lũy ngoại tệ. Cách làm này tuy có thể tăng cường năng lực tài chính của chính quyền trung ương nhưng đồng thời đã bào mòn năng lực tài chính của người dân. Về lâu dài, việc này gây áp lực tăng lạm phát, bất ổn xã hội và không thể đảm bảo cho tăng trưởng bền vững. Mặc dù lạm phát của TQ đã giảm từ 5,5% (2011) xuống 3,1% (2012) nhưng hoài nghi về tính chân thực của những số thống kê này cũng tăng lên.
  • Đồng RMB lên giá làm giảm giá trị dự trữ ngoại hối của TQ, nhất là giá trị các tài sản nợ của Hoa Kỳ mà chính phủ TQ đang nắm giữ.
  • Việc duy trì đồng RMB cao giá mang lại một lợi thế cho TQ là có thể đưa Nhân dân tệ trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Bắc Kinh đã rất tích cực thúc đẩy để RMB trở thành đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Mục tiêu này đòi hỏi quyết tâm cao, tiềm lực mạnh, và nỗ lực bền bỉ.

5- Dự trữ ngoại tệ và vàng của Trung Quốc năm 2012 đứng đầu thế giới với giá trị 3.549 tỷ USD – gấp 2,6 mức dự trữ của quốc gia xếp thứ hai là Nhật Bản (1.351 tỷ USD). Trong năm 2012, Trung Quốc rất tích cực nhập khẩu vàng. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ đồng thời là nước có sản lượng vàng khai thác lớn nhất thế giới.

Năm 2012, TQ tăng gấp đôi lượng vàng nhập khẩu từ thị trường Hồng Hồng Kông (khoảng 60% lượng vàng nhập khẩu của TQ đi qua cửa ngõ này) so với năm 2011, đạt tới quy mô kỷ lục là 834,5 tấn.


(*): Tổng hợp từ các nghiên cứu và phân tích được công bố trên Project Syndicate, Stratfor, Foreign Policy, CFR, và Brookings.