Chi tiêu qua thuế


27-4-2013 (VF) — Không chỉ có bốn chương trình trên đây là các hình thức trực tiếp trợ giúp công cộng đối với chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, còn hai loại hỗ trợ  giúp gián tiếp chủ yếu của chính phủ phát sinh do đánh thuế bảo hiểm sức khỏe (do giới chủ tài trợ) và thuế chi phí y tế vượt mức độ nhất định.

Nếu giới chủ trả tiền bảo  hiểm cho nhân viên thì khoản chi tiêu này không phải là thu nhập bị đánh thuế của nhân viên và cũng phải là diện chịu thuế quỹ lương. Chính phủ cho phép tất cả các cá nhân trừ các khoản chi tiêu vào bảo hiểm sức khỏe khi tính thu nhập bị đánh thuế. Rõ ràng là, điều này rất khuyến khích các khoản chi tiêu của giới chủ vào bảo hiểm sức khỏe. Mức độ giảm chi phí về mặt hiệu quả của bảo hiểm sức khỏe phụ thuộc vào nhóm thuế cận biên của cá nhân; tức là cá nhân đó sẽ phải trả thêm bao nhiêu tiền thuế nếu như công ty trả thêm cho các nhân đó khoản tiền thu nhập thay vì chi cho bảo hiểm sức khỏe. Ví dụ, giả định công ty chỉ có 1.000 đôla bảo hiểm sức khỏe cho một nhân viên; nhân viên này thuộc nhóm đóng thuế cận biên là 28%; do đó, nếu công ty trả trực tiếp 1.000 đôla này cho nhân viên thì đó là thuế gai tăng của anh ta sẽ là 280 đôla. Các nhà kinh tế học gọi khoản 280 đôla này là chi tiêu qua thuế; bởi vì sẽ không có gì khác nhau nếu chính phủ đánh thuế tioafn bộ thu nhập này rồi sau đó lại cấp lại cho cá nhân một khoản trợ cấp (miêsn thuế) là 280 đôla đối với khoản chi bảo hiểm sức khỏe  1.000 đôla. Chi tiêu thuế thi nhập dự định của  liên bang cho bảo hiểm y tế do giới chủ chi lên tới 23 tỷ đô la năm 1987.

Hình11.3 : Các tác động của chính sách thuế đối với cầu bảo hiểm

Hình11.3 : Các tác động của chính sách thuế đối với cầu bảo hiểm

Loại trợ giúp gián tiếp chủ yếu thứ hai hay chi tiêu qua thuế cho sức khỏe là miễn thuế thu nhập đối với các khoản chi cho y tế. Theo luật thuế mới  năm 1986, chỉ có khoản chi phí cho y tế cao hơn 7,5% thu nhập của cá nhân mới được trừ, theo luật trước đây là 5%. Năm 1987 khoản chi thuế loại này là 3 tỷ đôla, chỉ bằng 1/8 trợ cấp thuế cho bảo hiểm.

Chi tiêu qua thuế khuyến khích cả mua bảo hiểm y tế lẫn  chi tiêu y tế. Chúng làm giảm giá mà các cá nhân phải trả để mua bảo hiểm, như đã thể hiện ở hình 11.3. Giới chủ chỉ quan tâm đến tổng chi phí bồi thường, tức là thuê một công nhân sẽ tốn kém bao nhiêu. Hãy xem xét hợp đồng bảo hiểm của một cá nhân thuộc nhóm đóng thuế cận biên 28% cảm thấy chỉ đáng giá 72 đôla nhưng lại có giá 95 đôla. Do đó, công ty của cá nhân đó đang phải có chính sách để bù đắp bảo hiểm. Công ty có thể giảm lương xuống 100 đôla (72 đôla sau khi nộp thuế bằng 100 đôla trước khi nộp thuế) và hợp đồng chỉ mất có 95 đôla. Hệ thống thuế giảm thực sự giá bảo hiểm y tế xuống 28%. Ngay cả một công ty bảo hiểm rất không có hiệu quả và phải chi ra những nguồn lớn để quản lý chương trình, vẫn nộp tiền cho hãng để mua bảo hiểm.

Bảo hiểm cũng khuyến khích các cá nhân sử dụng nhiều dịch vụ y tế hơn và ít quan tâm hơn đến chi phí chăm sóc sức khỏe, vì họ chỉ phải trả một phần khá nhỏ chi phí này. Do đó, chi tiêu thuế của chính phủ, bằng cách tăng mức độ bao trùm của bảo hiểm, có thể dẫn đến chi tiêu lớn hơn vào các dịch vụ y tế.

Những tác động này lớn đến mức độ nào, là lĩnh vực đang được nghiên cứu tích cực. Ảnh hưởng của chúng phụ thuộc một phần vào ảnh hưởng của bảo hiểm đối với sự cạnh tranh giữa những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chúng ta sẽ thấy ở chương sau, và một phần phụ thuộc vào độ co dãn, tức là chi tiêu y tế không phải là tự nguyện mà tùy thuộc vào điều kiện sức khỏe, thì tác động của của chi tiêu thuế đối với cầu chăm sóc sức khỏe rất nhỏ. Nếu cầu co dãn, như trong giải phẫu sắc đẹp thì việc làm giảm giá hữu hiệu đối với người tiêu dùng có thể có tác động lớn.

Người ta không chỉ quan tâm tới hậu quả về hiệu quả của những chi tiêu qua thuế mà còn tới sự công bằng nữa. Lợi ích của thuế rõ ràng là lớn hơn đối với những người có thuế suất cận biên cao hơn, tức là đối với những người giàu có hơn. Những người thất nghiệp, những người có tiền công thấp được nhận ít hoặc không được nhận trợ cấp rõ ràng là không thích chi tiêu thuế liên quan đến bảo hiểm y tế do giới chủ trả. Ngày nay, khoảng 80% bảo hiểm sức khỏe được mua tại nơi làm việc.

* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
_________

  • Phần trước: Hỗ trợ trực tiếp
  • Phần tiếp: Sự bất công và tài trợ của chính phủ đối với dịch vụ y tế