Công bằng theo chiều ngang


8-9-2013 (VF) — Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang là nếu cá nhân về mọi mặt đều như nhau được đối xử ngang bằng nhau. Nguyên tắc công bằng theo chiều ngang quan trọng đến mức mà trên thực tế đã được đưa vào Hiến pháp bằng cách sửa đổi lần thứ 14 (điều khoản bảo vệ sự công bằng ). Do đó, một hệ thống thuế phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da hay tín ngưỡng, ở Hoa Kỳ sẽ bị coi là không công bằng theo chiều ngang (không hợp Hiến pháp). Mặc dù ý tưởng nổi bật đã rất rõ ràng, nhưng vẫn còn có hai khái niệm có thể lẫn lộn trong định nghĩa của chúng tôi: hai cá nhân như nhau về mọi mặt có nghĩa là gì? Việc hai người được đối xử ngang bằng nhau có nghĩa gì?

Hãy xem xét hai người sinh đôi như nhau về mọi mặt, mà một người chỉ thích socola và chỉ kem socola thôi, còn người kia chỉ thích kem vani thôi. Để đơn giản, chúng ta giả định rằng giá kem socola và giá kem vani bằng nhau. Vậy thì hệ thống thuế có đối xử công bằng với hai người sinh đôi này ngang bằng nhau hay không, và nếu thuế suất của hai cây kem này khác nhau? Cuối cùng thì một người phải nộp thuế cao hơn người kia và về mặt này thì hệ thống thuế tỏ ra không công bằng. Nhưng hai người sinh đôi có cùng các cơ hội. Người thích socola có thể mua kem vani nếu muốn và ngược lại. Hệ thống thuế không hề phân biệt đối xử, không phân biệt các cá nhân. Ví dụ là nghĩ ra, do vậy chúng tôi đưa ra hai hàng hóa về “cơ bản” như nhau. Trên thực tế có rất nhiều ví dụ về sự đối xử khác biệt của hệ thống thuế với cá nhân có thị hiếu khác nhau: thuế cao đánh vào rượu mạnh sẽ phân biệt đối với những người thích rượu mạnh Ecot so với những người thích rượu vang hoặc bia. Những người thích nghỉ tại nhà nghỉ riêng của mình được đối xử ưu đã hơn so với những người thích du lịch và các kỳ nghỉ.

Nếu chúng ta nói rằng sự khác nhau về thị hiếu là sự khác nhau quan trọng về mặt kinh tế mà hệ thống thuế có thể tính đến thì chúng ta có thể nói rằng nguyên tắc bình đẳng theo chiều ngang không thể áp dụng ở đây. Hai người sinh đôi không giống nhau về mọi mặt. Khi được đưa ra thái cực này thì nguyên tắc đó nhanh chóng trở nên sáo rỗng: không có hai người nào hoàn toàn giống nhau. Vậy những điểm khác nhau có thể chấp nhận là gì? Rất tiêc là nguyên tắc công bằng theo chiều ngang đã gợi ý cho chúng ta trả lời câu hỏi này quá ít.

Thoạt nhìn có thể thấy tất cả những điểm khác nhau đều không thể chấp nhận: tuổi tác, giới tính, tình trạng gia đình tất cả đều không giống nhau, không thể chấp nhận. Trên thực tế, hiện nay chúng ta phân biệt trên cơ sở tuổi tác và trình độ gia đình. Quốc hội thấy rằng những điểm khác nhau này là hợp lý.

Có thể tuổi tác và tình trạng gia đình là những điểm khác nhau hợp lý bởi vì chúng ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế của cá nhân. Nhưng nếu đây là những cơ sở có thể chấp  nhận để phân biệt thì có thể có những cơ sở khác có thể chấp nhận hay không? Ở chương sau chúng tôi sẽ chỉ ra những phi hiệu quả nảy sinh do hệ thống thuế phụ thuộc vào mức độ phản ứng đối với thuế. Trong gia đình có hai người làm việc, người có thu nhập thấp hơn thể hiện sự nhậy cảm nhiều hơn đối với mức tiền công so với người thứ nhất. Trong khi thuế thu nhập hầu như không có tác động gì đến số đông lao động mà người thứ nhất cung cấp, mà chỉ tác động chủ yếu đến người thứ hai. Do đó, nếu chính phủ quan tâm đến việc giảm thiểu những phi hiệu quả do hệ thống thuế gây ra thì chính phủ phải đánh thuế thấp hơn lên người thứ hai. Như vậy có công bằng không?

Ví dụ sau đây minh họa khó khăn trong việc xác định ý nghĩa của việc đối xử công bằng. Giả sử chúng ta đồng ý rằng đàn ông và phụ nữ có mức thu nhập như nhau trong suốt cuộc đời nên được đối xử công bằng vì những mục tiêu bảo trợ xã hội. Vậy thì toàn bộ lợi ích dự tính đối với phụ nữ và nam giới có giống nhau không? Tính trung bình phụ nữ sống lâu hơn nam giới do đó những quy tắc này đem lại những kết quả khác nhau. Nếu phụ nữ nhận lợi ích hàng năm như nam giới thì tổng dự tính của phụ nữ do dó sẽ lớn hơn rất nhiều so với của nam giới. Nhiều người cho rằng kết quả này không công bằng.

* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật

_________