Đường cầu hàng hóa công cộng


10-12-2012 — Trong chương 3, chúng ta đã miêu tả cân bằng thị trường của một hàng hóa tư nhân (kem) là điểm cắt của đường cầu và đường cung. Chúng ta đã chỉ ra rằng tại điểm này, lợi ích cận biên của việc sản xuất thêm một đơn vị bằng chi phí cận biên. Chính vì thế mà cân bằng của thị trường là có hiệu quả Pareto.

Chúng ta có thể sử dụng một cơ chế tương tự để miêu tả mức hiệu quả sản xuất HHCC. Chúng ta có thể vẽ đường cầu của mỗi cá nhân đối với HHCC theo cách tương tự như đã vẽ đường cầu HHTN của họ.

Các cá nhân không mua HHCC. Tuy nhiên, chúng ta có thể hỏi xem họ có thể cần bao nhiêu nếu như họ phải trả tiền bao nhiêu đó cho mỗi đơn vị HHCC mà họ có thể dùng thêm. Đây không phải là một câu hỏi hoàn toàn mang tính giả định, vì khi chi tiêu vào HHCC tăng lên thì thuế của cá nhân cũng tăng lên. Chúng tôi gọi khoản trả thêm này của cá nhân trong mỗi đơn vị HHCC thêm là giá thuế của anh ta. Trong phần thảo luận tới, chúng ta sẽ giả định là chính phủ quyết định đánh thuế các cá nhân khác nhau với những mức giá thuế khác nhau.

Giả định rằng giá thuế của một cá nhân là p, tức là, đối với mỗi đơn vị HHCC cá nhân đó phải trả p. Do đó tổng số mà cá nhân đó có thể chi tiêu (hạn chế ngân sách của anh ta) là:

C + pG = Y

Trong đó C là tiêu dùng HHTN của anh ta; G là tổng lượng HHCC được cung cấp; và Y là thu nhập của anh ta.

Hạn chế ngân sách chỉ ra những kết hợp hàng hóa (mà ở đây là HHCC và HHTN) mà cá nhân có thể mua với mức thu nhập và mức giá thuế đã định. Chúng tôi trình bày hạn chế ngân sách ở Hình 5.7A bằng đường BB. Dọc theo đường giói hạn ngân sách, nếu chi tiêu của chính phủ thấp hơn, tiêu dùng HHTN rõ ràng sẽ cao hơn. Cá nhân muốn có được mức hữu dụng cao nhất, phù hợp với giới hạn ngân sách của anh ta. Trong độ hữu dụng cao nhất, phù hợp với giói hạn ngân sách của anh ta. Trong hình 5.7 A, chúng tôi đã vẽ những đường bàng quan của cá nhân giữa HHCC và HHTN. Cá nhân sẵn sàng bỏ một số HHTN nếu nhận được thêm  HHCC. Lượng HHTN mà cá nhân sẵn sàng bỏ để nhận một đơn vị HHCC (và nhận HHTN ít hơn) nên lượng HHTN mà anh ta sẵn sàng  bỏ đi để có thêm một đơn vị HHCC và trở nên nhỏ hơn, tức là cá nhân có tỷ lệ thay thế cận biên giảm dần. Trên biểu đồ, tỷ lệ thay thế cận biên là độ dốc của đường bàng quan. Do đó, vì cá nhân sử dụng nhiều HHCC hơn và ít HHTN hơn, nên đường bàng quan trở nên phẳng hơn .

Hình 5.7 A

 

Hình 5.7 B

Hình 5.7: Đường cầu HHCC

Độ hữu dụng cao nhất của cá nhân là ở điểm tiếp tuyến giữa đường bàng quan và đường giới hạn ngận sách,điểm E trong phần A. Tại điểm này, độ dốc của đường giới hạn ngân sách và độ dốc của đường bàng quan là như nhau. Độ dốc của đường giới hạn ngân sách cho chúng ta thấy cá nhân phải bỏ bao nhiêu HHTN để nhận thêm một đơn vị HHCC, lượng đó bằng giá thuế của cá nhân. Độ dốc của đường bàng quan cho chúng ta thấy cá nhân sẵn sàng bỏ bao nhiêu HHTN để nhận thêm một đơn vị HHCC. Do đó, tại điểm mà cá nhân ưa thích nhất, lượng HHTN mà cá nhân sẵn sàng bỏ để nhận thêm một đơn vị HHCC. Khi chúng ta giảm giá thuế, đường giới hạn ngân sách chuyển dịch từ BB sang BB’, và điểm ưa thích nhất của cá nhân chuyển sang E’. Mức cầu của cá nhân về HHCC sẽ tăng rất nhiều.

Bằng cách tăng hoặc giảm giá thuế, chúng ta có thể vẽ đường cầu HHCC theo cách tương tự như vẽ đường cầu HHTN. Trong hình 5.7B, chúng ta đã vẽ đường cầu tương tự như vẽ đường cầu tương ứng trong phần A. Các điểm E và E’ trong phần A cho thấy lượng cầu HHCC ở mức giá thuế P1 và P2. Chúng ta có thể vẽ thêm nhiều điểm nữa cho B bằng cách chuyển đường giói hạn ngân sách ra xa hơn trong phần A.

Chúng ta có thể sử dụng cách này để vẽ các đường cầu HHCC của Crusoe và Friday. Sau đó, chúng ta có thể cộng chúng lại theo chiều dọc để có đường cầu trong hình 5.8. Cộng theo chiều dọc là hợp lý, bởi vì HHCC thuần túy cần cung cấp cho các cá nhân với cùng một lượng như nhau. Chia theo khẩu phần là không thể  thực hiện đượcvà cũng là không mong muốn, bởi vì sử dụng HHCC của một cá nhân không làm giảm đi sự hưởng thu của bất cứ người nào.

Hình 5.8: Tổng cầu HHCC

Đường cầu có thể coi như “đường sẵn sàng trả tiền cận biên”. Tức là, tại mỗi mức sản lượng HHCC, đường đó đều cho biết cá nhân sẽ sẵng sàng trả bao nhiêu để có thêm một đơn vị HHCC (giá thuế HHCC mà cá nhân phải trả là bằng tỉ lệ thay thế cận biên của cá nhân đó, mà tỷ lệ đó đơn giản là sẽ cho biết cá nhân  sẵn sàng từ bỏ bao nhiêu hàng hóa tư nhân để có thêm một đơn vị HHCC). Do đó, tổng số theo chiều dọc của các đường cầu là bằng đúng tổng của sự sẵn sàng trả tiền cận biên của cá nhân, tức là tổng lượng mà tất cả các cá nhân sẵn sàng trả để có thêm một đơn vị HHCC. Tương tự, bởi vì mỗi điểm trên đường cầu của một cá nhân là tỷ lệ thay thế cận biên của anh ta tại mức chi tiêu của chính phủ, nên bằng cách cộng các đường cầu theo chiều dọc . chúng ta có thể có được tổng các tỷ lệ thay thế cận biên. Kết quả đó là tổng cầu trong hình 5.8.

Chúng ta có thể vẽ đường cung cũng giống như đối với HHTN, đối với mỗi mức sản  lượng, giá trị biểu thị lượng những hàng hóa khác phải bỏ để sản xuất thêm một đơn vị HHCC, đây chính là chi phí cận biên, hoặc tỉ lệ chuyển đổi cận biên. Tại mức sản lượng mà tổng cầu bằng cung (hình 5.9), tổng số sẵn sàng trả tiền cận biên (tổng tỉ lệ thay thế cận biên) bằng đúng chi phí cận biên hoặc tỉ lệ chuyển đổi cận biên. Bởi vì tại điểm này, lợi ích cận biên do sản xuất thêm một đơn vị HHCC bằng chi phí cận biên, cho nên mức sản lượng được miêu tả bằng điểm cắt nhau của đường tổng cung và đường tổng cầu HHCC là có hiệu quả Pareto.

Mặc dù chúng ta đã xây dựng được đường cầu HHCC của cá nhân một cách giống như cách xây dựng đường cầu HHTN của cá nhân đó, vẫn có một số điểm khác nhau quan trọng giữa hai loại đường đó. Cụ thể là, trong khi cân bằng thị trường xảy ra tại điểm giao nhau của đường cung và cầu, thì chúng ta lại không đưa ra một lời giải thích nào về lý do tại sao cung cân bằng HHCC phải xảy ra tại điểm giao nhau của đường cầu mà chúng ta đã vẽ, với đường cung. Chúng ta mới chỉ xác minh được rằng nếu nó xảy ra thì mức sản lượng HHCC sẽ có hiệu quả Pareto. Đã có những quyết định về mức sản lượng HHCC do công cộng sản xuất ra, so chính phủ làm ra, và không phải do tư nhân sản xuất, từ đó, sản lượng có xảy ra ở điểm này hay không còn phụ thuộc vào bản chất của quá trình chính trị. Đây là chủ đề chúng ta sẽ nói nhiều ở chương sau.

Hình 5.9: Sản xuất có hiệu quả HHCC

Hơn nữa, trong khi thị trường cạnh tranh về HHCC, tất cả mọi cá nhân đều phải chịu giá như nhau nhưng tiêu dùng những lượng khác nhau (phản ánh những điểm khác nhau về thị hiếu), thì HHCC phải được cung cấp với lượng như nhau cho các cá nhân được hưởng, và chúng ta đã đặt giả thiết rằng chính phủ có thể định giá thuế khác nhau đối với HHCC. Một cách tư duy về giá này là giả định đã có thông báo trước về phần chi tiêu công cộng mà người đó phải gánh chịu. Nếu một cá nhân phải gánh chịu 1% chi phí công cộng thì khoản chi của chính phủ 1 đô la sẽ làm cá nhân tốn 1 xu, trong khi đó nếu cá nhân phải chịu 3% chi tiêu công cộng thì mỗi đô la tăng chi tiêu công cộng sẽ làm cá nhân phải chịu 3 xu.

Cuối cùng là, chúng ta phải nhấn mạnh rằng chúng ta đã đặc trưng mức hiệu quả Pareto của chi tiêu vào HHCC tương đương với phân phối thu nhập. Như chúng ta sẽ thấy trong phần sau, mức hiệu quả chi tiêu vào HHCC nói chung sẽ phụ thuộc vào phân phối thu nhập.

_____
* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
_____