Efficient Market Hypothesis (EMH): Thuyết thị trường hiệu quả


2-5-2012 (Vietnamica Finance) — Thuyết thị trường hiệu quả – EMH – là giả thiết cho rằng nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn những người khác bởi nhờ vận hành hiệu quả của thị trường chứng khoán mà giá của các cổ phiếu hiện có trên thị trường luôn phản ánh đầy đủ tác động của thông tin có liên quan.

Một thị trường vốn hiệu quả là nơi mà giá chứng khoán điều chỉnh nhanh chóng mỗi khi xuất hiện thông tin mới và do đó, mức giá hiện tại của một chứng khoán bất kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đến nó. Nói cách khác, mọi thành viên trên thị trường đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau.

Ảnh minh họa: SeekingAlpha

Theo lý thuyết này, chứng khoán sẽ được mua bán trao đổi ngang giá trên sàn giao dịch. Thành viên của thị trường sẽ không có cơ hội để mua ép giá cổ phiếu hoặc thổi phồng mức giá khi bán. Điểm mấu chốt của EMH là các nhà đầu tư sẽ không có khả năng thành công trên thị trường chứng khoán nếu chỉ dựa vào việc lựa chọn chính xác loại chứng khoán và định đúng thời gian tiến hành giao dịch. Cách duy nhất để có được lợi nhuận cao trên thị trường này là thực thi các quyết định đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn.

Một thị trường hiệu quả đòi hỏi phải có số lượng lớn các thành viên tham gia thị trường với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Các thành viên này tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau. Đông thời, thời điểm và nội dung thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự động. Và cuối cùng, các thành viên thị trường luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Sự điều chỉnh của giá chứng khoán có thể không hoàn hảo, nhưng không hề ưu tiên cho một mặt nào. Có khi sự điều chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cạnh tranh với nhau.

Hiệu quả của thị trường chia thành ba cấp độ:

  • Yếu. Giả thiết thị trường hiệu quả yếu cho rằng giá chứng khoán hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác như: mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của các chuyên gia ngoại hối hay của các nhóm độc quyền khác. Vì giả định rằng mức giá thị trường hiện tại phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa: tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau). Bởi vậy, nhà đầu tư có thể kiếm thêm chút thu nhập khi ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên các thông tin về tỷ suất thu nhập hay các thông tin khác của thị trường trong quá khứ.
  • Trung bình. Giả thuyết thị trường bán hiệu quả (trung bình) cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai. Giả thuyết bán hiệu quả bao trùm lên giả thiết hiệu quả yếu vì tất cả các thông tin trên thị trường đều phải được xem xét công khai dựa trên giả thiết hiệu quả yếu như giá cổ phiếu, tỷ suất thu nhập, và khối lượng giao dịch. Thông tin công khai cũng bao gồm tất cả các thông tin phi thị trường như: các thông báo về thu nhập và cổ tức, P/E, D/P, chia cổ phần, các thông tin về kinh tế cũng như chính trị-xã hội. Giả thuyết này ngụ ý các nhà đầu tư khi ra quyết định dựa trên các thông tin mới được công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức giá chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin công khai đó.
  • Mạnh. Giả thiết thị trường hiệu quả mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ. Nghĩa là sẽ không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cận được các thông tin liên quan đến việc định giá. Do đó, sẽ không ai thu được lợi nhuận vượt trội. Giả thiết thị trường hiệu quả mạnh là sự tổng hợp của cả giả thiết hiệu quả và giả thiết bán hiệu quả. Trong thị trường có hiệu quả hoàn hảo tất cả các thông tin đều miễn phí và sẵn có đối với mọi người ở cùng một thời điểm.

Dù là nền tảng của lý thuyết tài chính hiện đại, EMH vẫn là giả thiết gây nhiều tranh cãi. Những người ủng hộ thuyết này thì cho rằng việc tìm kiếm các chứng khoán được định giá thấp hơn so với giá trị thực hoặc cố gắng dự đoán các xu hướng biến động trên thị trường thông qua các phân tích cơ sở hoặc phân tích kĩ thuật đều vô ích. Trong khi đó,nhiều học giả đưa ra các bằng chứng nhằm phản bác lại thuyết EMH. Họ viện chứng rằng Warren Buffett – một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất của thế kỉ 20 – đã thành công trong suốt thời gian rất dài, mà điều này theo thuyết EMH là không thể. Chính Warren Buffet cũng đã từng nói rằng: “Tôi sẽ là một gã vô công rồi nghề trên đường phố nếu như thị trường này có hiệu quả”.

Những người phản đối EMH cũng dẫn chứng sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1987 (trong đó DJIA đã sụt giá tới 20% chỉ trong vòng một ngày), tức là giá chứng khoán có thể hoàn toàn bị bóp méo. Vào năm 1999 giá của các chứng khoán trên sàn NASDAQ bắt đầu tăng nhanh trở lại và không có dấu hiệu cho thấy nó sẽ sụt giảm, các nhà đầu tư bắt đầu nhận ra các chứng khoán này đã bị thổi phồng quá mức. Nhưng cũng chính họ lại tiếp tục mua vào nhiều hơn khiến cho mức giá lại càng tăng cao. Alan Greenspan đã gọi hiện tượng này là “tăng trưởng phi lý” (irrational exuberance). Paul Ormerod đã lý giải rằng điều này xảy ra bởi yếu tố tâm lý. Nhận thấy có nhiều người mua vào một loại chứng khoán nào đó, các nhà đầu tư sẽ đổ xô đi mua chứng khoán này. Việc đua nhau mua chứng khoán đã tạo ra một cơn sốt trên thị trường khiến cho giá cả ngày càng leo thang thay vì giảm xuống. Những hành vi bất hợp lý này chính là nhân tố khiến cho thuyết EMH bị sai lệch.

EMH không có khả năng lý giải sự sụp đổ cũng như phát triển nở rộ của thị trường như đã nói, tuy nhiên các lý thuyết kinh tế học hiện đại lại có thể giải thích được các hành vi trên. Tại sao thị trường lại luôn biến động? Có thể giải thích điều này là do sự tồn tại của hai loại nhà đầu tư trong hệ thống thị trường là : ‘nhà đầu tư căn bản‘ (fundamentalists) và các ‘nhà đầu tư kỹ thuật (đồ thị)‘ (chartists) – nhân tố mà các nguyên lý kinh tế học tân cổ điển chưa bao giờ xét tới. Các nhà đầu tư căn bản sẽ tiến hành mua bán trên cơ sở mức giá phản ánh giá trị thực tế của chúng. Trong khi đó các nhà đầu tư kỹ thuật (đồ thị) sẽ phán đoán dựa trên các dữ liệu quá khứ và tin rằng chúng sẽ ảnh hưởng đến giá cả tương lai của tài sản. Sẽ có một bộ phận trên thị trường tin theo nhà đầu tư căn bản và bộ phận còn lại theo cách thức của nhà đầu tư kỹ thuật. Tỉ lệ này thay đổi ngẫu nhiên và do đó sự biến động của giá cả tài sản trên thị trường chính là sự phản ánh biến động của tỉ lệ này – tỉ lệ đối trọng giữa hai loại nhà đầu tư hoạt động trên thị trường.

Mục đích chính của thuyết EMH là nhằm giải thích cách thức vận hành thực tế của thị trường tuy nhiên sự đơn giản về mặt toán học của nguyên lý kinh tế học tân cổ điển đã xoá nhoà tác dụng này. Mặc dù mô hình kinh tế hiện đại còn ít nhiều lộn xộn và chưa được hoàn thiện song nó đã tính đến sự tương tác giữa các loại nhà đầu tư và có cơ sở thực nghiệm vững chắc hơn.