Giá, lượng cầu và tổng chi tiêu


3-8-2012 (VF) – Nếu các yếu tố khác không đổi, đường cầu chỉ ra người tiêu dùng muốn mua bao nhiêu ở mỗi mức giá. Ở mỗi mức giá, tổng chi tiêu của người tiêu dùng bằng giá nhân với lượng cầu. Bây giờ chúng ta bàn về mối quan hệ giữa tổng chi tiêu, và và độ co giãn của cầu.

Hình 4.4 chỉ ra tổng chi tiêu thay đổi như thế nào khi giá thay đổi. Trong trường hợp A, điểm A với giá PA và lượng cầu QA. Tổng chi tiêu là PAQA được thể hiện bằng hình chữ nhật OPAAQA. Ở mức giá thấp hơn là Pb, lượng cầu là QB và tổng chi tiêu là PBQB, được thể hiện bằng hình chữ nhật OPBBQB . Tổng chi tiêu đã thay đổi như thế nào khi giá giảm từ PA đến PB? Phần giảm xuống của tổng chi tiêu được đánh dấu bằng dấu (-) và phần tăng lên của tổng chi tiêu được đánh dấu (+). Trong trường hợp A, phần (+) nhiều hơn phần (-), cho nên tổng chi tiêu tăng. Trong phần cầu co giãn (cho đến giá trên cùng), giá giảm xuống ít nhưng lượng cầu tăng lên nhiều hơn là đủ để bù đắp sự giảm xuống của giá. Tổng chi tiêu tăng lên.

Hình 4.4 Độ co giãn của cầu và ảnh hưởng của giá đến tổng chi tiêu

Khi giá giảm từ PA đến PB , tổng chi tiêu thay đổi từ OPAAQA  đến OPBBQB . Chi tiêu tăng khi cầu là không co giãn (trường hợp B) và không thay đổi khi cầu là co giãn đơn vị (trường hợp C).

Bảng 4.3 Độ co giãn của cầu và thay đổi trong chi tiêu

Nguồn: J.Muellbauer, “Testing the Barten Model of Household Composition Effects and the cost of Children, Economic Journal, 1977; A Deaton, “The Measurement of Income and price Elasticstites”, European Economic Review, 1975.

Trường hợp B minh họa phần thấp hơn của đường cầu nơi cầu không co giãn. Mặc dù giá giảm làm tăng lượng cầu, sự tăng lên của lượng cầu không đủ bù đắp sự giảm xuống của giá. Phần (+) ít hơn phần (-). Tổng chi tiêu giảm xuống. Nếu giá giảm làm tăng tổng chi tiêu ở phần đường cầu có độ co giãn cao và làm giảm tổng chi tiêu ở những phần đường cầu có độ co giãn thấp hơn thì có một mức già nào đó trên đường cầu mà khi giá giảm nhưng tổng chi tiêu không thay đổi. Trường hợp C minh họa khả năng này. Sự tăng lên của cầu bù đắp vừa đủ sự giảm xuống của giá.

Nếu lượng cầu tăng 1% thì khi giá giảm 1%, tổng chỉ tiêu không thay đổi. Trường hợp C chỉ ra điểm trên đường cầu tại đó độ co giãn của cầu bằng -1 (lượng thay đổi 1%, giá thay đổi -1%). Nếu cầu là co giãn, độ co giãn lớn hơn -1, như trong trường hợp A, giá giảm 1% khiến cho lượng tăng nhiều hơn 1%. Vì vậy, tổng chi tiêu tăng lên. Ngược lại, nếu cầu không co giãn, độ co giãn trong khoảng từ 0 đến 1, trường hợp như B, giá giảm 1% làm cho lượng cầu tăng ít hơn 1%. Vì vậy tổng chi tiêu giảm. Kết quả này được tóm tắt ở bảng 4.3.

Giá vé xem bóng đá

Hãy suy nghĩ về doanh thu từ việc bán vé xem bóng đá. Bảng 4.4 cí các số liệu về lượng cầu vé xem bóng đá lấy từ bảng 4.1 và lượng cầu ở mức giá 6,25£. Ở mức giá này, độ co giãn của cầu bằng -1. Giá giảm 20% (-1,25£) dẫn đến lượng cầu tăng 20% (1000 vé). Cột (4) chỉ ra tổng doanh thu ở mỗi mức giá.

Bắt đầu ở mức giá cao nhất là 12,5£, ban đầu giá giảm làm tăng doanh thu, sau đó làm giảm doanh thu. Bảng 4.4 giải thích tại sao lại như vậy. Khi giá cao, cầu là co giãn: giá giảm làm tổng chi tiêu tăng. Khi cầu là co giãn đơn vị, ở mức giá 6,25£ chúng ta đạt tới bước ngoặt. Ở mức giá này, giá giảm nhưng tổng chi tiêu không đổi. Trên mức giá này, giảm giá thì tổng chi tiêu tăng. Dưới mức giá này, giá giảm sẽ làm tổng chi tiêu giảm vì cầu là không co giãn.

Bảng 4.4. Cầu về xem bóng đá và tổng doanh thu

Có thể rút ra hai kết luận. Thứ nhất, khi vận động dọc xuống dưới đường cầu, tổng chi tiêu chắc chắn sẽ không thay đổi khi đi qua mức giá 6,25£ với độ co giãn tại mức giá đó là co giãn đơn vị. Thứ hai, tổng chi tiêu hay tổng doanh thu đạt được giá trị lớn nhất ở điểm cầu co giãn đơn vị. Tức là đạt tại mức giá 6,25£, đây là những thông tin mà chủ các câu lạc bộ cần biết.

—-
* David Begg & Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (GV ĐHKTQD dịch), 2008, Kinh tế học, NXB Thống kê.

* Phần trước: Phản ứng của cầu đối với giá
* Phần sau: Các ứng dụng khác của độ co giãn của cầu