Hạch toán thu nhập quốc dân


24-2-2013 (VF) – Chúng ta bắt đầu bằng việc mở rộng biểu đồ dòng luân chuyển đơn giản ở trên. Các giao dịch không chỉ diễn ra giữ một hãng duy nhất và một hộ gia đình duy nhất, Các hãng thuê các dịch vụ lao động của các hộ gia đình, nhưng mua nguyên liệu và máy móc từ các hãng khác. Để tránh tính hai lần, chúng ta sử dụng giá trị gia tăng.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đo lường sản lượng được sản xuất ra trong nền kinh tế trong nước bất kể ai sở hữu các đầu vào sản xuất.

Giá trị gia tăng được tính bằng cách lấy giá trị sản lượng của hãng trừ đi chi phí cho hàng hóa đầu vào đã được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó. Liên quan chặt chẽ với khái niệm giá trị gia tăng là sự phân biệt giữa hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian. Kem là một hàng hóa cuối cùng. Thép là hàng hóa trung gian, được sản xuất ra bởi những hãng nhưng được sử dụng làm đầu vào cho một hãng khác. Hàng tư bản là hàng hóa cuối cùng vì nó không được sử dụng hết trong quá trình sản xuất tiếp theo. Chúng không hao mòn hết.

Giá trị gia tăng là sự gia tăng giá trị của hàng hóa do quá trình sản xuất tạo ra.

Ví dụ sau đây sẽ làm rõ các khái niệm này. Hãy đọc cho đến khi bạn hiểu chúng một cách thấu đáo. Chúng ta giả định có bốn hãng trong nền kinh tế: hãng sản xuất thép, hãng sản xuất hàng tư bản (máy móc) dùng cho ngành công nghiệp ô tô, hãng sản xuất lốp và hãng sản xuất ô tô bán cho các hộ gia đình, người tiêu dùng cuối cùng. Bảng 19.4 tính toán GDP cho nền kinh tế đơn giản này.

Hàng hóa cuối cùng được người sử dụng cuối cùng mua, đó có thể là các hộ gia đình mua hàng tiêu dùng hoặc các hãng mua hàng tư bản (tư liệu sản xuất) như máy móc. Hàng hóa trung gian là những bán thành phẩm, đóng vai trò là đầu vào và sẽ được sử dụng hết trong quá trình sản xuất tiếp theo.

Đo lường GDP

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đo lường giá trị sản lượng trong nền kinh tế. Trước tiên chúng ta xem xét một nền kinh tế đóng, không liên kết với phần còn lại của thế giới, trong đó sản lượng và thu nhập là như nhau.

KTH-Bang194

Hãng sản xuất thép sản xuất ra số lượng thép trị giá 4000£, bán đi một phần tư dưới dạng hàng hóa trung gian cho hãng sản xuất máy móc và ba phần tư cho hãng sản xuất ô tô. Nếu hãng sản xuất thep này cũng kiêm cả khâu khai thác quặng sắt để luyện thép, thì tổng số 4000£ là giá trị gia tăng hay là sản lượng ròng của hãng. Khoản doanh thu này được chi trả trực tiếp dưới dạng tiền lương hay tiền thuê hoặc là lợi nhuận và cũng trở thành thu nhập của các hộ gia đình. Do vậy, tổng hai hàng đầu của cột cuối cùng cũng là 4000£. Mặc dù các hãng đã chi 4000£ để mua sản lượng thép này, nhưng đây không phải là khoản chi cho hàng hóa cuối cùng. Thép là một loại hàng hóa trung gian, được sử dụng hết trong các giai đoạn sau của quá trình sản xuất.

Hãng sản xuất máy móc chi 1000£ mua đầu vào là thép để chế tạo máy móc và bán hãng sản xuất ô tô với giá 2000£. Giá trị gia tăng của hãng sản xuất máy móc là 2000£ trừ đi 1000£ chi cho đầu vào là thép. Và khoản thu nhập ròng 1000£ này trực tiếp hoặc gián tiếp đến tay các hộ gia đình dưới dạng thu nhập hay lợi nhuận. Vì hãng ô tô dự kiến giữ chiếc máy đó, nên giá trị đầy đủ của nó là 2000£ được biểu thị dưới dạng chi tiêu cho hàng hóa cuối cùng.

Giống như hãng sản xuất thép, hãng sản xuất lốp xe sản xuất ra một sản phẩn trung gian không phải là chi tiêu cuối cùng. Nếu hãng sản xuất lốp xe còn sở hữu cả cây cao su cung cấp mủ để sản xuất ra lốp xe thì tổng sản lượng 500£ là giá trị gia tăng và sẽ đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào thu nhập của hộ gia đình. Nếu hãng sản xuất lốp xe mua cao su của một hãng sản xuất cao su trong nước, thì chúng ta phải lấy sản lượng của hãng sản xuất lốp xe trừ đi giá trị cao su đầu vào để có được giá trị gia tăng hay sản lượng ròng, nhưng chúng ta phải bổ sung thêm một dòng biểu thị hoạt động của hãng sản xuất cao su.

Hãng sản xuất ô tô chi 3000£ mua thép và 500£ mua lốp xe. Do cả hay loại hàng hóa này đều được dùng hết trong khi chế tạo ô tô, nên chúng ra lấy sản lượng ô tô là 5000£ trừ đi 3500£ và có được giá trị gia tăng của hãng sản xuất ô tô. Khoản doanh thu ròng này được trả cho các hộ gia đình đã cung cấp các dịch vụ yếu tố, hoặc được trả cho họ dưới dạng lợi nhuận.

Cuối cùng, hãng sản xuất ô tô bán ô tô với giá 5000£ cho người tiêu dùng cuối cùng- các hộ gia đình. Chỉ đến lúc đó, chiếc ô tô này mới trở thành hàng hóa cuối cùng và giá đầy đủ 5000£ được ghi là khoản chi tiêu cuối cùng.

Bảng 19.4 cho thấy tổng giá trị của tất cả các giao dịch là 11500£, nhưng khoản này cao hơn giá trị của hàng hóa mà nền kinh tế thực tế sản xuất ra. Ví dụ, khoản 3000£ mà hãng sản xuất thép thu được nhờ bán thép cho hãng sản xuất ô tô đã được tính trong giá trị cuối cùng của sản lượng ô tô. Đây đơn thuần là việc tính trùng, tức là khoản 3000£ được tính hai lần.

Cột (5) cho biết giá trị gia tăng tại từng công đoạn của quá trình sản xuất. 7000£ là sản lượng ròng của nền kinh tế. Vì từng hãng trả khoản thu nhập ròng tương ứng cho các hộ gia đình hoặc dưới dạng các khoản thanh toán trực tiếp cho yếu tố sản xuất hay gián tiếp là lợi nhuận, nên thu nhập của các hộ gia đình cũng bằng 7000£ trong cột cuối cùng của bảng này. Nếu chung ta tính gộp các khoản thanh toán cho các hộ gia đình dưới dạng thu nhập và lợi nhuận, thì chúng ta cũng có được con số tương tự về GDP của nền kinh tế.

Bảng 19.4 khẳng định rằng chúng ta cũng có được đáp số tương tự nếu chúng ta tính khoản chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng,. Trong trường hợp này, những người sử dụng cuối cùng là các hộ gia đình mua ô tô và hãng sản xuất ô tô mua máy móc dùng để chế tạo ô tô.

Đầu tư và tiết kiệm

Ví dụ được nêu trong bảng 19.4 cho phép chúng ta không chỉ lý giải khái niệm giá trị gia tăng và sự khác biệt giữa hàng hóa trung gian và hàng hóa cuối cùng, mà còn xử lý nhanh chóng vấn đề phức tạp thứ hai. Tổng sản lượng và thu nhập của các hộ gia đình đều là 7000£, nhưng các hộ gia đình chỉ tiêu 5000£ mua ô tô.

Đầu tư là việc các hãng mua sắm hàng hóa tư bản mới. Tiết kiệm là phần thu nhập không được chi để mua hàng hóa và dịch vụ.

Vậy họ làm gì với phần còn lại? Và ai chi phần còn lại? Để giải quyết những vấn đề này, chúng ta cần đến các khái niệm đầu tư và tiết kiệm.

Như vậy, trong ví dụ của chúng ta các hộ gia đình tiêu dùng 5000£ để mua ô tô. Vì thu nhập của họ là 7000£, họ tiết kiệm 2000£. Hãng sản xuất ô tô chi 2000£ để đầu tư mua máy  móc mới. Hình 19.3 cho ta thấy cách thay đổi dòng luân chuyển trên hình 19.2. Nửa dưới của hình 19.3 cho thấy thu nhập và giá trị của dịch vụ yếu tố đều là 7000£. Nhưng khoản 2000£ biến mất khỏi dòng luân chuyển khi hộ gia đình tiết kiệm. Chỉ có 5000£ quay trở lại các hãng khi các hộ gia đình mua ô tô.

Nửa trên của hình này cho thấy rằng 5000£ là giá trị sản lượng hàng tiêu dùng và chi tiêu của các hộ gia đình cho các hàng hóa này. Vì GDP là 7000£, vậy khoản 2000£ kia từ đâu ra? Do khoản này không phát sinh từ khoản chi tiêu của các hộ gia đình, nên nó phải là khoản chi của chính các hãng. Đó là đầu tư 2000£ mà hãng sản xuất ô tô dùng để mua máy móc cho sản xuất.

Hình 19.3 Đầu tư, tiết kiệm và dòng luân chuyển

Hình 19.3 Đầu tư, tiết kiệm và dòng luân chuyển

Vòng trong tiếp tục biểu thị dòng luân chuyển các nguồn lực thực giữa các hãng và hộ gia đình. Các hãng sử dụng các dịch vụ yếu tố sản xuất do các hộ gia đình cung cấp để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình và hàng tư bản mới cho các hãng khác. Vòng ngoài cho thấy dòng luân chuyển của các khoản thanh toán. Các hộ gia đình có thể sử dụng thu nhập từ yếu tố sản xuất hoặc để mua hàng tiêu dùng hoặc để tiết kiệm. Các hãng cũng nhận được doanh thu từ chi tiêu của các hãng khác cho hàng tư bản mới. Do vậy, tiết kiệm là khoản rò rỉ khỏi dòng luân chuyển, còn đầu tư là khoản bơm vào dòng luân chuyển.

Các khoản rò rỉ khỏi dòng luân chuyển là tiền mà các hộ gia đình nhận được nhưng không trở lại các hãng.

Các số liệu trong bảng 19.4 liên quan đến những dòng luân chuyển của sản lượng, chi tiêu và thu nhập trong một kỳ nhất định, chẳng hạn 1 năm. Cũng trong thời kỳ này, nền kinh rế quay một lần quanh vòng trong và ngoài của hình 19.3.

Theo vòng trong, các hãng sản xuất ra sản lượng 5000£ để các hộ gia đình tiêu dùng và sản xuất ra sản lượng 2000£ các hàng hóa tư bản mà các hãng khác nua để đầu tư. Vòng ngoài đề cập đến các khoản thanh toán bằng tiền, tiết kiệm là một khoản rò rỉ 2000£ từ dòng luân chuyển và khoản chi cho đầu tư của các hãng để mua máy móc mới là một khoản 2000£ bơm vào dòng luân chuyển.

Một khoản bơm vào là tiền chảy đến các hãng mà không bắt nguồn từ các hộ gia đình.

Ngay lập tức có hai câu hỏi nảy sinh. Thứ nhất, phải chăng khoản tiết kiệm 2000£ của hộ gia đình đúng bằng khoản đầu tư 2000£ của các hãng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Thứ hai, nếu đó khong phải là ngẫu nhiên, thì làm thế nào mà khoản tiền tiết kiệm của hộ gia đình lại được chuyển giao cho các hãng để họ thanh toán cho đầu tư?

Giả sử chúng ta dùng Y để chỉ giá trị của GDP, mà chúng ta biết nó cũng bằng giá trị thu nhập của các hộ gia đình. Nếu C là khoản chi cho tiêu dùng của các hộ gia đình và S là tiết kiệm, thì từ định nghĩa rằng tiết kiệm là phần thu nhập không được chi dùng, ta có Y ≡ C+S. Dấu ≡ nghĩa là “đúng bằng, theo định nghĩa”. Vì một định nghĩa của GDP là tổng của chi tiêu cuối cùng, Y ≡ C +I. Kết hợp hai định nghĩa này lại với nhau: S ≡ I (1) và cả hai đều đồng nhất với (Y-C)

Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà tiết kiệm và đầu tư đều bằng 2000£ trong ví dụ của chúng ta. Phương trình (1) cho biết rằng tiết kiệm sẽ luôn luôn bằng đầu tư khi không có khu vực chính phủ và khu vực nước ngoài.

Hãy xem lại vòng ngoài của hình 19.3. Tất cả khoản chi cho tiêu dùng trong nửa trên của hình trở lại các hộ gia đình dưới dạng thu nhập trong nửa dưới của hình. Do vậy, chi cho đầu tư của các hãng được cân đối bằng khoản thu nhập của các hộ gia đình vượt quá khoản chi cho tiêu dùng của họ. Do tiết kiệm được định nghĩa là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng, nên đầu tư và tiết kiệm phải luôn bằng nhau.

Sự trùng hợp này xuất phát từ định nghĩa của chúng ta về đầu tư, tiết kiệm là thu nhập. Đầu tư thực tế phải bằng tiết kiệm thực tế. Điều này không nhất thiết có nghĩa là tiết kiệm mong muốn bằng đầu tư mong muốn. Để nghiên cứu vấn đề này, chúng ta cần các mô hình về tiết kiệm mong muốn và đầu tư mong muốn, một nhiệm vụ mà chúng ta sẽ bắt đầu ở chương tiếp theo.

Điều gì liên kết khoản tiết kiệm rò rỉ với khoản đầu tư bơm vào? Do các hãng trả cho các hộ gia đình 7000£ nhưng chỉ thu được 5000£ từ khoản chi tiêu của hộ gia đình cho tiêu dùng, họ phải vay 2000£ để trả cho hàng tư bản mới mà họ mua. Do các hộ gia đình tiết kiệm được 2000£ nên họ cho các hãng vay để đầu tư. Trong một nền kinh tế thị trường, các thiết chế tài chính và các thị trường tài chính chuyển tiết kiệm của hộ gia đình đến các hãng muốn vay để đầu tư vào hãng tư bản mới.

Đầu tư giúp chúng ta xử lý một vấn đề nữa đã được đề cập đến trong biểu đồ dòng luân chuyển đơn giản hơn. Điều gì xảy ra nếu các hãng không thể bán được hết sản lượng mà họ sản xuất ra? Liệu điều này có tạo ra sự chênh lệch giữa các thước đo sản lượng và chi tiêu của GDP không?

Hàng hóa cuối cùng là những hàng hóa không được sử dụng hết trong quá trình sản xuất trong thời kỳ nghiên cứu. Trong bảng 19.4, thép là một loại hàng hóa trung gian được sử dụng hế để chế tạo ô tô và máy móc. Máy móc là hàng hóa cuối cùng bởi người sản xuất ô tô có thể dùng lại chúng trong thời gian tới. Giả sử doanh thu của hãng sản xuất ô tô không phải 5000£, mà chỉ là 4000£. Hãng sản xuất còn lại số ô tô tồn kho trị giá 1000£.

Hãng sản xuất ô tô có thể dự trữ thép và nó đóng vai trò là đầu vào để sản xuất ô tô trong thời gian tới, hay dự trữ ô tô thành phẩm chờ để bán cho người tiêu dùng trong thời gian tới.

Hàng tồn kho hay dự trữ là những hàng hóa hiện được giữ lại để sản xuất hay tiêu dùng sau này.

Trong chương 6, chúng ta đã mô tả hàng dự trữ như là vốn lưu động. Bởi vì, không được dùng hết trong sản xuất và tiêu thụ trong thời gian đang xét, hàng dự trữ được xếp loại vào hàng tư bản. Bổ sung thêm hàng dự trữ là khoản đầu tư vào vốn lưu động.

Khi hàng dự trữ cạn kiệt, chúng ta coi đó là đầu tư âm hay giảm đầu tư.

Bởi vậy, chúng ta có thể ghi các tài khoản quốc dân ở dạng đơn giản. Khi hãng sản xuất ô tô chỉ có thể bán được số ô tô trị giá 4000£ trong số ô tô trị giá 5000£ được sản xuất ra trong một khoảng thời gian, chúng ta coi khoản đầu tư vào hàng tồn kho 1000£ của hãng sản xuất ô tô là khoản chi tiêu cuối cùng. Như trong bảng 19.4, các thước đo sản lượng và chi tiêu của GDP đều bằng 7000£. Nhưng khoản chi vào hàng hóa cuối cùng giờ đây bao gồm: hãng sản xuất ô tô (2000£ mua máy móc, 1000£ dự trữ), các hộ gia đình tiêu dùng (4000£ mua ô tô).

Nhiều người có thể bị nhầm lẫn khi xử lý vấn đề này. Điều quan trọng ở đây là cần phân biệt giữa việc phân loại hàng hóa và phân loại theo công dụng kinh tế. Thép rõ ràng là một hàng hóa trung gian, nhưng điều đó không quan trọng. Khi hãng sản xuất và bán thép, chúng ta biểu thị đây là việc sản xuất một loại hàng hóa trung gian. Do nó đã được chuyển giao cho người khác, con số chi tiêu của chúng ta tiếp tục đưa nó vào dây chuyền sản xuất và tiêu thụ. Nhưng khi một hãng bổ sung nó vào dự trữ, chúng ta phải coi nó là một khoản chi tiêu cuối cùng bởi vì nó sẽ không đưa vào mục nào trong hệ thống tài khoản quốc dân. Hãng đang tạm thời bổ sung thêm vào vốn, và sau này hãng sử dụng hết những dự trữ đó, chúng ta coi đó là khoản đầu tư âm để làm cho việc ghi chép đơn giản.

Chính phủ

Chính phủ nhận được thu nhập vừa thông qua thuế trực thu Td đánh vào thu nhập (tiền lương, tiền thuê tài sản, tiền lãi, lợi nhuận) vừa thông qua thuế gián thu hay thuế chi tiêu Te (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt). Thuế được sử dụng để tài trợ cho hai loại chi tiêu. Chi tiêu của chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ G gồm các hàng hóa hữu hình và dịch vụ mà chính phủ mua sắm. Nó gồm khoản chi trả tiền lương cho các công chức và quân nhân, mua sắm máy chữ, xe tăng, máy bay quân sự và các chương trình đầu tư vào đường sá và bệnh viện.

Các chính phủ cũng chi tiền cho các chương trình chuyển giao thu nhập hay trợ cấp, B. Chúng gồm tiền hưu trí, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp cho các hãng. Các khoản chuyển giao thu nhập là các khoản chi không đòi hỏi phải cung ứng lại hàng hóa và dịch vụ.

Các khoản chuyển giao thu nhập này không được tính vào cả thu nhập quốc dân lẫn sản lượng quốc dân. Chúng cũng không được tính vào GDP. Ở đây, không có sản lượng ròng tương ứng nào. Các khoản thuế và chuyển giao thu nhập chỉ phân phối lại thu nhập và sức chi tiêu hiện có từ những người bị đánh thuế sang những người được trợ cấp. Ngược lại, khoản chi tiêu G vào hàng hóa và dịch vụ tạo ra sản lượng ròng, làm tăng thu nhập yếu tố trong các hãng cũng cấp sản lượng này và làm tăng sức chi tiêu của các hộ gia đình nhận được khoản thu nhập này. Do đó, khoản chi tiêu G của chính phủ vào hàng hóa và dịch vụ phải được tính vào GDP. Chi tiêu của chính phủ là chi tiêu cuối cùng vì chính phủ bây giờ là một hộ sử dụng cuối cùng bổ sung đối với sản lượng.

Mục đích của việc hạch toán thu nhập quốc dân là cung cấp một tập hợp những định nghĩa và thước đo sản lượng quốc dân có tính chất nhất quán là logic. Tuy nhiên, thuế chèn vào một cái nêm giữa giá người mua trả và giá người bán nhận. Chúng ta có thể chọn cách đánh giá sản lượng quốc dân hoặc theo giá thị trường gồm cả thuế gián thu đánh vào hàng hóa và dịch vụ, hay theo giá mà hãng sản xuất nhận sau khi đã nộp thuế gián thu.

GDP theo giá thị trường đo lường sản lượng trong nước bao gồm cả thuế gián thu đánh vào hàng hóa và dịch vụ. GDP theo giá cơ bản đo lường sản phẩm trong nước không bao gồm thuế gián thu đánh vào hàng hóa và dịch vụ. GDP theo giá tị trường lớn hơn GDP theo giá cơ bản một lượng bằng doanh thu từ thuế gián thu.

Khi tính tiêu dùng C, đầu tư I và chi tiêu chính phủ vào hàng hóa và dịch vụ G theo giá thị trường gồm cả thuế gián thu, giá trị gia tăng hay sản lượng ròng của nền kinh tế được tính bằng:

GDP theo giá thị trường = chi tiêu cuối cùng  =  C+I+G      (2)

Thuế gián thu cao hơn sẽ làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ. Mặc dù giá trị sản lượng tăng khi tính theo giá thị trường, nhưng lượng sản phẩm vật chất không thay đổi, Do vậy, tốt hơn khi sử dụng cách tính GDP theo giá cơ bản. Như vậy, khi trừ thuế gián thu Te, ta có:

Y ≡ GDP theo giá cơ bản ≡ [C+I+G]-Te     (3)

Cách tính giá trị sản lượng quốc dân này không phụ thuộc vào thuế gián thu. Thuế cao hơn làm tăng giá trị của (C+I+G) nhưng cũng dẫn đến sự gia tăng tương đương của Te, giữ GDP theo giá cơ bản không đổi. Từ đây, chúng ta sử dụng ký hiệu Y để chỉ GDP theo giá cơ bản.

Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập của các hộ gia đình sau khi nộp thuế trực thu và nhận chuyển giao thu nhập. Nó cho biết khoản tiền mà các hộ gia đình sẵn.

Hình 19.4 cho thấy thuế trực thu và chuyển giao thu nhập tác động đến dòng luân chuyển của các khoản thanh toán, một khi chúng ta bổ sung thêm khu vực chính phủ.

Thu nhập của các hộ gia đình theo giá cơ bản Y được bổ sung thêm khoản trợ cấp B trừ thuế trực thu Td. Ta có khoản thu nhập cá nhân khả dụng là (Y+B-Td).

Tiết kiệm là phần thu nhập khả dụng không được chi cho tiêu dùng. Do vậy: S ≡ (Y+B-Td) –C và Y ≡ S +C +Td –B

Chính phủ và dòng luân chuyển

Hình 19.4: Chính phủ và dòng luân chuyển

Hình này mở rộng dòng luân chuyển giữa các hộ gia đình và các hãng, bao gồm cả khu vực chính phủ. Các hãng trả thu nhập yếu tố Y cho các hộ gia đình. Thu nhập khả dụng được sử dụng cho tiết kiệm S hay tiêu dùng C. Khoản chi tiêu này được bổ sung thêm khoản bơm vào từ chi tiêu của chính phủ G cho hàng hóa và dịch vụ và chi đầu tư I. Từ C+I+G hay GDP theo giá thị trường, chúng ta phải trừ đi khoản rò rỉ là thuế gián thu Te để có GDP theo giá cơ bản Y mà các hãng trả cho các hộ gia đình.

Quanh vòng trên hình 19.4 chúng ta thấy rằng tiêu dùng C theo giá thị trường giờ được bổ sung thêm các khoản bơm vào bao gồm chi cho đầu tư I và chi tiêu của chính phủ G. Từ (C+I+G) hay GDP theo giá thị trường, chúng ta phải trừ đi thuế gián thu Te để nhận được Y hay GDP theo giá cơ bản:

Y ≡ C + I + G – Te                  (5)

So sánh công thức này với vế phải của phương trình (4), ta thấy rằng:

S + Td + Te – B ≡ I + G                   (6)

Các tài khoản quốc gia của chúng ta rất có ý nghĩa. Vế trái của phương trình (6) là các khoản rò rỉ khỏi dòng luân chuyển giữa các hãng và các hộ gia đình. Tiền rò rỉ ra qua tiết kiệm của các hộ gia đình và thuế (trừ đi phần trợ cấp) nộp cho chính phủ. Vế phải của phương trình (6) là những khoản bơm và dòng luân chuyển: khoản chi cho đầu tư của các hãng, chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ. Tổng các khoản rò rỉ phải bằng tổng các khoản bơm vào, nếu không chúng ta đã mắc sai sót về kế toán. Trong trường hợp đặc biệt khi Td ≡ Te ≡ G ≡ B ≡ 0, thì không có khu vực chính phủ và phương trình (6) có nghĩa là S ≡ I như ở phương trình (1).

Chú ý rằng phương trình (6) có thể được viết dưới dạng:

Td + Te –B – G = I – S        (7)

Vế trái là thặng dư ngân sách của chính phủ, tổng thu nhập trừ đi tổng chi tiêu. Vế phải là thâm hụt của khu vực tư nhân, mức chi tiêu cho đầu tư vượt quá mức tiết kiệm của các hộ gia đình. Theo định nghĩa thì khu vực tư nhân chỉ bị thâm hụt khi chính phủ có thặng dư và ngược lại.

Khu vực nước ngoài

Cho đến nay, chúng ta mới chỉ xét một nền kinh tế đóng, không giao dịch với thế giới bên ngoài. Bây giờ, chúng ta xét một nền kinh tế mở có quan hệ với các nước khác.

Các hộ gia đình, các hãng và chính phủ có thể mua hàng nhập khẩu Z không thuộc sản lượng trong nước và không làm tăng thu nhập từ các yếu tố sản xuất trong nước.

Những hàng hóa này không được tính trong thước đo sản xuất của GDP, giá trị gia tăng được tạo bởi các nhà sản xuất trong nước.

Hàng xuất khẩu (X) là những hàng hóa được sản xuất trong nước nhưng được bán ra nước ngoài. Hàng nhập khẩu (Z) là những hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài nhưng được mua để sử dụng trong nước.

X và chỉ tính chi tiêu cuối cùng về tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu đối với hàng được sản xuất trong nước. Nhưng sẽ dễ dàng hơn nhiều khi tiếp tục tính tổng chi tiêu cuối cùng cho C, I, G và X rồi khấu trừ chi phí cho nhập khẩu Z khỏi tổng chi tiêu này.

Kết quả hoàn toàn giống nhau. Do đó, trong một  nền kinh tế mở, chúng ta có thể nhận thấy sự hiện diện của ngoại thương qua việc định nghĩa GDP theo giá cơ bản như sau:

Y ≡ C + I + G + X – Z – Te ≡ C + I + G + NX – Te (8)

Trong đó NX là ký hiệu của xuất nhập khẩu ròng (X-Z).

Thế còn những khoản rò rỉ và bơm vào thì sao? Nhập khẩu là khoản rò rỉ, đó là khoản tiền không trở lại các hãng trong nước, nhưng xuất khẩu lại là một khoản bơm vào, một nguồn thu nhập không bắt nguồn từ các hộ gia đình trong nước. Kết hợp phương trình (8) với phương trình (6) ta có:

S + (Td + Te – B) + Z ≡ I + G + X                                                    (9a)

[S – I] ≡ (G + B – Te – Td) + NX                                                     (9b)

Phương trình (9a) cho thấy tổng các khoản rò rỉ phải bằng tổng các khoản bơm vào. Nhập khẩu là một khoản rò rỉ bổ sung, xuất khẩu là một khoản bơm vào bổ sung dòng luân chuyển.

Phương trình (9b) mở rộng phương trình (7) cho một nền kinh tế mở. Khoản thặng dư của khu vực tư nhân S-I là một khoản rò rỉ ra khỏi dòng luân chuyển. Nó phải được cân đối bằng một khoản bơm vào có giá trị đúng như vậy. Khoản bơm vào này có thể bắt nguồn hoặc từ thâm hụt của chính phủ (G + B – Te – Td) hoặc từ xuất nhập khẩu ròng NX, tức là khoản dôi ra giữa thu nhập từ xuất khẩu và chi tiêu cho nhập khẩu. Do thặng dư thương mại của chúng ta là thâm hụt thương mại của thế giới bên ngoài, phương trình (9b) cho thấy rằng thặng dư của khu vực tư nhân phải được cân đối bằng thâm hụt ngân sách của chính phủ cộng với thâm hụt thương mại của người nước ngoài.

Từ GDP đến GNP hay GNI

Để hoàn chỉnh phần mô tả của chúng ta về hệ thống tài khoản quốc gia cần phải giải quyết hai vấn đề cuối cùng. Cho đến nay, chúng ta đã giả định rằng tất cả các yếu tố sản xuất thuộc sở hữu trong nước: toàn bộ sản lượng ròng trong nước thuộc sở hữu của các hộ gia đình trong nước dưới dạng các khoản thu nhập yếu tố. Nhưng thực tế không nhất thiết là như vậy. Khi hãng Nissan sở hữu một nhà máy ô tô ở Liên hiệp Anh, một phần lợi nhuận sẽ được chuyển về Nhật để các hộ gia đình Nhật chi tiêu hay tiết kiệm.

GNP (GNI) đo lường tổng thu nhập mà các công dân trong nước nhận được bất kể họ cung ứng các dịch vụ nhân tố ở quốc gia nào. GNP (GNI) bằng GDP cộng thu nhập tài sản ròng tử nước ngoài.

Ngược lại, các hộ gia đình ở Liên hiệp Anh có được thu nhập do việc sở hữu tài sản ở nước ngoài, Khoản thu nhập này từ tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận và tiền cho thuê được ghi vào các tài khoản quốc gia như là luồng chu chuyển thu nhập tài sản giữa các nước.

Luồng chu chuyển thu nhập tài sản ròng vào Liên hiệp Anh là khoản chênh lệch giữa thu nhập tài sản nhận được từ cung ứng dịch vụ yếu tố ở nước ngoài và thu nhập tài sản trả cho người nước ngoài cung ứng các dịch vụ yếu tố ở Liên hiệp Anh.

Khi có một luồng chu chuyển ròng thu nhập tài sản giữa Liên hiệp Anh và thế giới bên ngoài, các con số sản lượng và chi tiêu của GDP sẽ không còn ngang bằng với tổng thu nhập yếu tố mà các công dân Liên hiệp Anh thu được. Chúng ta sử dụng thuật ngữ tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng thu nhập quốc dân (GNI) để đo lường GDP đã được điều chỉnh đối với các khoản thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài.

KTH-Bang195

Nếu liên hiệp Anh có thu nhập tài sản từ nước ngoài 2 tỷ bảng và phải trả cho người nước ngoài thu nhập tài sản 1 tỷ bảng, thì GNP đo lường thu nhập mà các công dân nhận được sẽ cao hơn GDP, đo lường giá trị hàng hóa được sản xuất ra tại Liên hiệp Anh là 1 tỷ bảng

Bảng 19.5 cho thấy số liệu thực tế về GDP và GNP của Liên hiệp Anh năm 2003. Thống kê chính thức tách chi tiêu chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ G thành tiêu dùng chính phủ và đầu tư chính phủ. Do đó, bảng 19.5 cho thấy số liệu về tiêu dùng của các hộ gia đình, tiêu dùng của chính phủ (và các tổ chức phi lợi nhuận) và tổng đầu tư của cá của cả chính phủ và các hãng tư nhân.

Từ GNP đến thu nhập quốc dân

Vấn đề phức tạp cuối cùng là khấu hao.

Khấu hao hay tiêu dùng tư bản là mức giảm giá trị của dự trữ tư bản hiện có cho từng giai đoạn do sử dụng hoặc lỗi thời.

Khấu hao là một biến kỳ cho ta biết dự trữ tư bản thực tế của chúng ta đã hao mòn bao nhiêu trong một thời kỳ. Khấu hao là một khoản chi phí kinh tế, bởi vì nó đi lường các nguồn lực được sử dụng hết trinh quá trình sản xuất.

Thu nhập quốc dân là sản phẩm quốc dân ròng của nền kinh tế. Nó được tính bằng cách lấy GNP theo giá cơ bản trừ đi khấu hao.

Ví dụ đơn giản của chúng ta trong bảng 19.4 đã hoàn toàn bỏ qua khấu hao. Chiếc máy mà hãng sản xuất ô tô mua sẽ tồn tại vĩnh viễn. Bây giờ, chúng ta nhận thấy rằng chiếc máy đó sẽ bị hao mòn. Kết quả là sản lượng ròng của nền kinh tế sẽ thấp hơn. Một phần của tổng sản lượng của nền kinh tế đơn thuần được sử dụng để thay thế tư bản hiện có, và không thể sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư bổ sung thêm vào dự trữ tư bản, chi tiêu chính phủ hay xuất khẩu.

Tương tự, chúng ta cần giảm mức thu nhập của chúng ta dành để chi cho những hàng hóa này. Do đó, chúng ta lấy GNP trừ đi khấu hao để có được sản phẩm quốc dân ròng (NNP) hay thu nhập quốc dân.

Thu nhập quốc dân đo lường thu nhập mà nền kinh tế cỏ thể chi tiêu hay tiết kiệm, sau khi dành ra nguồn lực để duy trì dự trữ tư bản nguyên vẹn bằng cách bù đắp khấu hao.

KTH-Hinh195


* David Begg & Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (GV ĐHKTQD dịch), 2008, Kinh tế học, NXB Thống kê.

* Phần trước: Tổng quan

* Phần sau: GNP đo lường gì