Khuyến khích về mặt tổ chức


7-2-2013 (VF) — Các DNCC khác với các DNTN theo hai điểm quan trọng: các DNCC không lo lắng về việc bị phá sản và thường không phải lo lắng về vấn đề cạnh tranh.

Phá sản

Một trong những lý do dẫn đến sự khác nhau giữa các DNCC và DNTN là các DNTN luôn phải đối mặt với sự đe dọa phá sản, còn các DNCC thì nếu có chuyện gì xảy ra đã có trợ cấp của chính phủ. Khả năng bị phá sản là một vấn đề quan trọng; đó là giới hạn về mức lỗ mà việc quản lý kém hiệu quả có thể gây ra cho DNTN và là cơ chế tự nhiên để thay thế đội ngũ quản lý phi hiệu quả đó. Nó gây ra hạn chế ngân sách đối với hãng. Trong khi thị trường cạnh tranh, ngay cả một nhà quản lý hào phóng cũng không thể trả công cho người làm của mình cao hơn mức lương thịnh hành mà không sợ rủi ro phá sản.

Ngược lại, các DNCC thường có thâm hụt lớn trong thời gian rất dài. Ví dụ ở Anh, thâm hụt tồn tích của công ty British Steel Corporation trong suốt thời kỳ từ khi quốc hữu hóa rất lớn. Từ năm 1976-1983, tổng số tiền lỗ ròng của công ty là 4,3 tỉ bảng, tương đương với 500 đô la bình quân cho mỗi hộ gia đình bốn người ở Anh. Người ta lập luận rằng, khả năng trợ cấp của chính phủ đã làm cho các nhà quản lý DNCC ít chịu đựng hơn những đòi hỏi về mặt tiền lương của công đoàn; ở nhiều nước, các DNCC trả tiền công khá cao hơn so với DNTT trả công cho công nhân tương đương. Tình trạng cũng tương tự đối với công nhân làm việc khu vực công cộng ở Hoa Kỳ. Tiền lương cấp liên quan cho đàn ông cao hơn trong khu vực tư nhân 15%; còn đối với phụ nữ thì cao hơn 21%.

Cạnh tranh

Điểm khác nhau thứ hai giữa DNCC và DNTN nảy sinh từ sự thiếu cạnh tranh đối với hầy hết các DNCC. Cạnh tranh có một số chức năng rất quan trọng. Một là, cạnh tranh là cơ hội dễ lựa chọn. Hãy xem xét một cơ quan chính phủ có trọng trách phát bằng, giấy chứng nhận: thường thường cơ quan này không tính đến giá trị thời gian dùng để xếp hàng nhận phiếu và giấy tờ. Vì chi phí xếp hàng chờ đợi không thể hiện trong ngân sách của cơ quan, trong khi chi phỉ thêm người để làm giảm bớt thời gian chờ đợi lại được đưa vào cân đối, cho nên đã không có việc giảm chi phí theo cách này.

Mọi người có thể sẵn sang trả thêm tiền cho việc cung cấp dịch vụ đó, nhưng lại không có cơ hội lựa chọn. Khi có cạnh tranh, mỗi người có thể thể hiện ý thích của mình qua hành vi lựa chọn. Do đó có lựa chọn buộc các hãng phải có những chi phí về các thủ tục hành chính đặt ra đối với người ngoài cơ quan. Do đó, một hãng bảo hiểm đòi hỏi quá nhiều thủ tục hành chính giấy tờ dẽ bị mất khách hàng so với những hãng ít quan liêu bàn giấy hơn. Cơ quan hành chính công cộng có hành vi tương tự lại không nhận được tín hiệu giống như vậy.

Khả dĩ hơn là, cạnh tranh là biện pháp khuyến khích: các doanh nghiệp cạnh tranh nhau khi thu hút hách hàng về phía mình, đều cố gắng tìm ra sự kết hợp trong dịch vụ của mình để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Khái quát hơn thì cạnh tranh là cơ sở để so sánh. Khi chỉ có một cơ quan phát phiếu, rất khó có thể đánh giá xem cơ quan đó hoạt động có hiệu quả hay không. Những người chịu trách nhiệm quản  lý cơ quan đó am hiểu hơn về công nghệ cấp phát phiếu so với người ngoài cuộc. Nhưng khi có một số cơ quan tham gia vào những hoạt động tương tự thì có cơ sở để so sánh. Rõ ràng, cơ quan này chi phí ít hơn cơ quan kia và hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi tại sao. Khi không thể so sánh một cách công khai thì so sánh có thể được thực hiện ngầm, bởi thị trường và thể hiện ở tỷ suất sinh lợi nhuận của hãng. Cạnh tranh có nghĩa là những hàng hóa nào hoạt động hiệu quả, có thể cung cấp dịch vụ mà khách hàng mong muốn sẽ tăng trưởng mở rộng, còn những hãng nào phi hiệu quả sẽ bị thu hẹp. Sự khen thưởng và trừng phạt này do thị trường nhận định và không có sự tham gia của con người. Các nhà quản lý hiểu điều đó và có động cơ lớn để thúc đẩy hiệu quả sáng tạo trong công việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.

_________
* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
_________