Laffer curve: Đường cong Laffer


6-11-2012 (VF) – Theo quan điểm kinh tế học trọng cung, thuế có thể là công cụ để kích thích tăng trưởng kinh tế. Tư tưởng đó thể hiện qua quan điểm: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm và sẽ đạt một mức tích lũy cực đại nhất định. Theo đó, thu nhập tiết kiệm được sẽ là nguồn lực để mở rộng đầu tư và kinh doanh. Như vậy, nhà nước cần giảm thuế để tăng thu nhập của dân cư và doanh nghiệp để làm tăng cơ hội đầu tư từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế.

Tiêu biểu cho tư tưởng này là nhà kinh tế học A. Laffer (1940). Ông đã nghiên cứu và đưa ra mô hình đường cong thể hiện mối quan hệ giữa thuế suất và tổng thu từ thuế, gọi là đường cong Laffer. Dựa trên đường cong lý thuyết, Laffer đã chứng minh được rằng tăng thuế ở Mỹ sẽ tác động tiêu cực tới năng xuất xã hội, tức là ở một mức thuế suất hợp lý, tổng thu từ thuế sẽ là tối đa.

Đường cong Laffer

Trong hình, trục tung mô tả tổng thu từ thuế T, trục hoành mô tả thuế suất t. Ở điểm O, mức thuế suất là 0% được xã hội đồng tình nhất nhưng Chính phủ lại không thu được đồng thuế nào. Khi chính phủ áp dụng mức thuế suất tại A’, tốc độ tăng của tổng thu thuế là cao nhất, tổng thu từ thuế là T_{AB}, tương ứng với điểm A trên đường cong Laffer, xã hội đồng thuận với mức này. Khi thuế suất tăng từ A’ lên E’, tổng thu thuế của Chính phủ là lớn nhất (Tmax) tương ứng điểm cân bằng E, nhưng tốc độ tăng của tổng thu thuế lại có xu hướng giảm dần và sự phản đối của người dân cũng tăng dần khi thuế suất càng tăng cao. Nếu chính phủ áp dụng mức thuế suất quá cao, vượt quá điểm E’, tổng thu thuế của chính phủ không những không tăng mà còn có xu hướng giảm mạnh do người dân ngày càng phản đối mạnh mẽ. Điều đó làm gia tăng tình trạng trốn thuế làm thất thu ngân sách và khiến cho động lực sản xuất của xã hội triệt tiêu, làm giảm thu nhập của toàn xã hội. Cùng với đó, áp lực chi phí thuế cao sẽ làm thu hẹp đầu tư, sản xuất và kinh doanh do đó làm giảm tăng trưởng kinh tế. Nếu chính phủ đánh thuế ở điểm D với mức thuế suất 100%, chính phủ sẽ không thu được đồng thuế nào vì hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh của xã hội bị ngưng trệ.

Do đó, nếu muốn tăng tích lũy vốn và mở rộng đầu tư, sản xuất và kinh doanh, A. Laffer đề xuất rằng nên bãi bỏ phương thức đánh thuế lũy tiến và làm giảm lợi nhuận của các công ty.

Trên thực tế, lý thuyết này đã được áp dụng ở Mỹ giai đoạn 1981 – 1986, thuế suất cho cả cá nhân và doanh nghiệp đều được giảm thấp. Và các nước công nghiệp hóa cao khác cũng đã áp dụng lý thuyết này.

Tuy nhiên, một bất lợi của việc áp dụng đường cong Laffer trong việc thực hiện chính sách thuế là: ở những nước bắt đầu đổi mới, việc hạ thấp thuế suất sẽ khiến thâm hụt ngân sách tăng cao.

* Tham khảo: *Hua Liu (Huazhong Univeristy of Science & Technology Wuhan, China), and Huu Cung Nguyen and Thu Huong Tran (Hung Vuong University, Viet Tri, Vietnam), 2012, Tax Burden and Economic Growth: Theory and Practice in Vietnam DOI: 10.7763/IPEDR. 2012. V46. 15.

—-
* Liên quan: