Một số ưu điểm của đầu cơ


15-2-2013 (VF) — Khi nói đến đầu cơ, quan điểm thường thấy là việc đổ lỗi cho đầu cơ gây ra bong bóng tài sản hay làm lũng đoạn thị trường khiến giá tài sản bị nâng lên hay hạ xuống một cách vô lí và không tuân theo các điều kiện cơ sở. Tuy nhiên, ở các thị trường phát triển với sự phổ biến của các thị trường tài sản và vai trò ngày một lớn của đầu cơ, không thể không tính đến các mặt tích cực của đầu cơ.


Thứ nhất, nhà đầu cơ gánh chịu bớt rủi ro cho thị trường trong tình huống bất định. Lấy một ví dụ về đầu cơ trên thị trường hàng hóa. Trong tháng 1 năm 2013, một số nông dân muốn thuê thêm đất để trồng ngô trong vụ cuối năm nhằm mở rộng sản xuất và tăng thêm thu nhập, nhưng nông dân sợ giá ngô sẽ hạ khi đến mùa thu hoạch. Khi có nhà đầu cơ đến gặp nông dân và ấn định một hợp đồng mua hàng trong tháng 12 năm 2013 với mức giá cố định, không quan tâm đến giá cả thị trường vào thời điểm thu hoạch là bao nhiêu. Nhà đầu cơ đã gánh chịu rủi ro trong trường hợp giá thị trường giảm xuống thấp hơn giá đã thỏa thuận mua từ nông dân. Như vậy, nông dân có thể yên tâm sản xuất ngô với giá đã cố định. Trong trường hợp này, đầu cơ giúp thúc đẩy sản xuất và tăng nguồn cung trên thị trường. Bằng cách tham gia các hợp đồng dạng này, đầu cơ giúp tạo ra mức tiêu thụ ổn định trên thị trường. Khi tham gia hợp đồng, tất nhiên nhà đầu tư đặt cược vào xu hướng giá ngô sẽ tăng lên vào thời điểm tháng 12. Nếu giá trong tháng 12 giảm xuống, thì người nông dân sẽ được lợi với hợp đồng ký trước, còn nhà đầu cơ sẽ bị thiệt, và ngược lại. Đây là dạng phổ biến của hợp đồng kỳ hạn (forward contract) trên thị trường hàng hóa.

Thứ hai, đầu cơ giúp điều hòa cung-cầu trên thị trường. Giả định không có giới hạn về quy định xuất nhập khẩu hay kinh doanh hàng hóa. Thị trường tài sản hoặc hàng hóa đều do cung-cầu-giá quyết định. Ví dụ, trong trường hợp giá vàng trong nước tăng cao so với giá thế giới, nhà đầu cơ tại thị trường trong nước sẽ mua vào nhằm tạo ra sự thiếu hụt tạm thời để đẩy giá lên, sau đó sẽ bán ra với hy vọng kiếm lời. Trong trường hợp này, các nhà cung cấp cho thị trường sẽ nhập khẩu thêm vàng để bán trong nước hòng thu lãi. Tuy nhiên, do nguồn cung đã đầy đủ hơn, giá trong nước hạ xuống, giúp khách hàng đỡ bị thiệt hại. Như vậy, đầu cơ dù không chủ đích nhưng đã giúp cung-cầu trên thị trường được gặp nhau.

Thứ ba, đầu cơ đóng góp vào sự ổn định của giá thị trường. Điều này có được là do khi mua vào tài sản, nhà đầu cơ sẽ giúp giá của loại tài sản (đang bị định giá thấp) tăng lên, còn khi bán ra, nhà đầu cơ giúp giảm bớt giá của những loại tài sản đang bị định giá quá cao. Theo cách nhìn của Keynes (1923)[i] và Friedman (1953)[ii], đầu cơ giúp giảm bớt biến động quá lớn trong giá. Đây là một quan điểm ngược so với quan điểm cho rằng đầu cơ gây ra biến động giá. Tuy nhiên, lợi ích và tác hại của đầu cơ cần phải được xét trên từng trường hợp và mức độ nhất định. Khi đầu cơ ở mức chấp nhận được, thị trường có thể thấy một số lợi ích. Nếu đầu cơ quá mức, thì những lợi ích đang bàn đến ở đây có thể bị phản tác dụng. Những bài học lịch sử của thế giới cho thấy, thường khi đầu cơ tăng lên mức quá cao thì các vấn đề sẽ phát sinh, và tất cả những ưu điểm của đầu cơ đều bị biến mất,  thay bằng những nhược điểm lớn hơn bội phần, đó có thể là bong bóng vỡ và suy thoái kinh tế.

Thứ tư, đầu cơ giúp tăng cường tính thanh khoản cho thị trường. Xét trong trường hợp thị trường cổ phiếu, khi nhà đầu cơ tham gia vào thị trường, họ sẽ tập trung vốn vào những mã cổ phiếu có thể không thực sự “hot” trên thị trường và sau đó sẽ thu hút thị trường và khiến cổ phiếu được quan tâm giao dịch hơn. Việc thị trường quan tâm hơn đến cổ phiếu và có nhiều giao dịch đối với cổ phiếu hơn có thể giúp làm tăng thanh khoản của thị trường mà không nhất thiết phải đẩy giá cổ phiếu lên mức cao. Mặc dù vậy, theo quy luật thị trường, thường thì khi một thứ hàng hóa hay tài sản có nguồn cầu lớn hơn, loại tài sản đó thường có mức giá cao hơn. Quan điểm rằng đầu cơ không gây ra biến đổi trong giá được rất nhiều tác giả chứng minh, trong đó có Brunetti và các tác giả khác (2011)[iii], Stoll và Whaley (2010)[iv], Irwin và Scott (2012)[v], Dale và Zyren (1996)[vi].


[i] Friedman, M. (1953), The case for flexible exchange rate, Essays in Positive Economics, pp. 157-203. Chicago: University of Chicago Press.

[ii] Keynes, J.M. (1923), Some Aspects of Commodity Markets. Manchester Guardian Commercial, Reconstruction Supplement, in Collected Writings 12.

[iii] Brunetti, C., Buyuksahin B., Harris, J., H. (2011), Speculators, Prices and Market Volatility, SSRN http://ssrn.com/abstract=1736737

[iv] Stoll, H.R, Whaley, R.E. (2010), Commodity index investing and commodity futures prices, Journal of Applied Finance, Vol. 20, pp. 7-46.

[v] Irwin S. H. and Scott D.R. (2012), Testing the masters hypothesis in commodity futures markets, Energy Policy, Vol. 34, 1, pp. 256-269.

[vi] Dale, C. and Zyren, J. (1996), Noncommercial trading in the energy futures market, Petroleum Marketing Monthly, May.

________

* Nguồn: DHVP Research