Những cơ chế tiết lộ mới


5-1-2013 (VF) — Trước đây chúng ta đã  ghi nhận rằng,một trong những vấn đề quan trọng đối với HHCC là tiết lộ sở thích. Khi có được HHTN, các cá nhân đã thổ lộ ý thích của mình đối với những HHTN khác nhau. Nhưng đối với HHCC thì không có được cơ chế tương tự. Những cơ chế chính trị rõ ràng nhất hoặc gắn những nhận định của cá nhân về thái độ của mình đối với HHCC với cái mà người đó phải trả, trong trường hợp đó gây ra thiếu cung (vì mỗi cá nhân đều cho rằng nhận định của mình có rất ít ảnh hưởng đến cung nhưng lại có ảnh hưởng không nhỏ đến cái họ phải trả, anh ta sẽ nói rằng mình được lợi không bao nhiêu), hoặc không gắn cái họ phải trả với cái họ nói và trong trường hợp này cá nhân sẽ có động cơ để khuyếch trương lợi ích.

Một nghiên cứu mới đây đã tập trung vào việc đề ra những qui tắc đơn giản để các cá nhân có thể thể hiện ý thích của họ. Quy tắc quy định  mối quan hệ giữa mức HHCC, trách nhiệm nộp thuế của mỗi cá nhân và những nhận định mà mỗi cá nhân nói về thái độ của mình đối với HHCC.

Một số nhà kinh tế đưa ra những cơ chế khác có những đặc điểm khả dĩ làm cho cá nhân nói lên sự thật và đảm bảo hiệu quả Pareto. Tuy nhiên, vẫn còn sự tranh cãi lớn về sự phù hợp của các cơ chế đó. Nếu chúng tốt như vậy, tại sao chúng không được áp dụng? rất đáng tiếc, chúng cũng có một số vấn đề nghiêm trọng. Để ép buộc cá nhân nói lên sự thật, mỗi cá nhân đều phải tin rằng anh ta có thể có ảnh hưởng rõ ràng nào đó lên kết quả cuối cùng, lên mức cân bằng chi tiêu vào HHCC. Chi phí hành chính quản lý các cơ chế này có thể rất lớn. Hơn nữa, các cơ chế này  rất nhạy bén với sự cấu  kết. Chúng có đặc điểm nội tại là nó phải trả cho cá nhân để họ họ nói thật ý thích của họ; nhưng nếu hơn hai người hoặc hơn hai cá nhân tập hợp lại và phối hợp tuyên bố không đúng sự thật.

Việc tìm kiếm những cơ chế tốt hơn để nói lên ý thích vẫn đang tiếp tục. Nhiều nhà kinh tế không lạc quan về việc liệu có những phương án thực tế để những cơ chế chính trị tồn tại hay không?

_______
* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
______