Nợ công Việt Nam: “vẫn tăng đều”


19-1-2013 (VF) — Thống kê nợ công với GDP của Việt Nam qua các năm do Bộ Tài chính công bố.

Nợ công Việt Nam qua các năm (% GDP)

Năm Tổng nợ công Nợ công nước ngoài Nợ nước ngoài
2005 27,8 32,2
2006 26,7 31,4
2007 28,2 32,5
2008 25,1 29,8
2009 52,6 29,3 39,0
2010 57,3 31,1 42,2
2011 54,6 41,5
2012 55,4

Nguồn: Bộ Tài chính

Theo số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ nợ công của Việt Nam qua các năm có xu hướng gia tăng, trong đó nợ nước ngoài ngày càng lớn, từ 32,2% GDP năm 2005 lên 42,2% GDP năm 2010. Bộ Tài chính ước tính, đến hết năm 2012, nợ công so với GDP của Việt Nam ở mức 55.4%, tăng 0,8% so với năm 2011 (VTV, 29-11-2012).

Trong cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm khoảng 78%, bằng 43,1% GDP; nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm khoảng 21%, bằng 11,7% GDP; nợ chính quyền địa phương chiếm khoảng 1%, bằng 0,5% GDP (VnEconomy, 1-11-2012).

Như vậy, theo mức trần khống chế nợ công là 65% GDP giai đoạn 2011-2020, nợ công của Việt Nam vẫn nằm trong giới hạn an toàn. Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực, mức nợ công của Việt Nam hiện đang ở mức cao. Nợ công của Thái Lan là 44% GDP, Indonesia là 39,7% GDP và Philippines là 47,3% GDP (Kinh tế và Dự báo, 8-8-2012).

Do dư nợ tăng nhanh, tổng lượng tiền phải trả cho chủ nợ nước ngoài khá lớn nên nghĩa vụ trả nợ của Việt Nam qua các năm và trong các năm tới cũng tăng mạnh. Cụ thể, năm 2010, Việt Nam phải trả các chủ nợ nước ngoài 1,67 tỷ USD và hơn 616 triệu USD tiền lãi và phí, tăng gần 30% so với mức 1,29 tỷ USD của năm 2009.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, dự kiến năm 2012, Việt Nam phải trả nợ nước ngoài cả tiền nợ gốc và lãi 1,33 tỷ USD (Tiền Phong, 27-8-2012). Tính từ nay đến năm 2015, mỗi năm nước ta phải trả nợ nước ngoài cả gốc lẫn lãi khoảng 1,5 tỷ USD, và đến năm 2020, tổng số tiền phải trả là 2,4 tỷ USD (Kinh tế và Dự báo, 8-8-2012).

Do đó, Quốc hội và Chính phủ định hướng, đến năm 2020 kiểm soát mức nợ công không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% và nợ nước ngoài của quốc gia dưới 50%. Đến năm 2030, các chỉ tiêu này sẽ được hạ thấp dần, xuống lần lượt 60%, 50% GDP và 45% GDP.

Về cơ cấu, Chính phủ dự kiến năm 2020 tổng nợ nước ngoài trong danh mục vay phải giảm xuống dưới 50%. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu ngân sách hàng năm không quá 25%, đảm bảo chỉ tiêu tỷ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn hàng năm trên 200% (VnExpress, 28-7-2012).

Mặc dù Việt Nam vẫn ở mức an toàn về nợ công, nhưng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thấp và nhiều DN đang phá sản như hiện nay thì tình trạng nợ công của Việt Nam sẽ đáng lo ngại. Nếu các biện pháp kiểm soát nợ công không được thực hiện tốt thì khả năng các thế hệ tương lai phải gánh nợ thay cho đất nước sẽ không còn quá xa vời.

___________

* Liên quan: Tình hình bội chi NSNN và nợ công của Chính phủ Việt Nam từ 2001 đến 2011