Phân tích chi phí – lợi ích xã hội


30-3-2013 (VF) — Khi đánh giá một dự án, chính phủ cũng sẽ thực hiện một quá trình về cơ bản giống như thế. Tuy nhiên có hai điểm khác nhau cơ bản giữa phân tích chi phí – lợi ích xã hội và cá nhân:

Chỉ có những hậu quả của các dự án mà hãng quan tâm là có ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của hãng. Còn  chính phủ lại quan tâm đến những hậu quả tầm rộng hơn: chẳng hạn như những ảnh hưởng của một con đê đối với hệ sinh thái; tác động của con đê đến việc sử dụng dòng sông vào mục đích giải trí.

Hãng sử dụng giá thị trường để đánh giá số tiền phải trả để mua đầu vào và phần thu nhờ bán sản phẩm. Có hai trường hợp chính phủ có thể không sử dụng giá trị thị trường để đánh giá dự án: (a) trong nhiều trường hợp không có giá trị thị trường vì đầu ra và đầu vào không có bán ngoài thị trường. Không khí trong lành không có giá thị trường, cuộc sống an toàn không có giá, không có giá giữ gìn cảnh thiên nhiên. (b) trong những trường hợp khác, giá thị trường không đại  diện hết chi phí hoặc lợi ích xã hội cận biên. Hãy nhớ lại chương 3, khi không có thật bại của thị trường thì giá thị trường phản ánh được chi phí và lợi ích xã hội cận biên. Tương tự, khi không có thất bại  của thị trường, chính phủ cũng nên sử dụng giá thị trường đánh giá thị trường khi đánh giá các dự án của mình. Tuy nhiên, chính phủ phải hành động một cách đúng đắn, bởi vì khi có sự thất bại nào đó của thị trường thì giá mà chính phủ sử dụng phải phản ánh được sự thất bại đó của thị trường. Do đó, nếu chính phủ quan tâm đến thất nghiệp, thì chính phủ không nên coi tiền lương cá nhân là thước đo thực chi phí xã hội cận biên của việc tuyển cá nhân đó. Nếu chính phủ cho rằng thị trường vốn hoạt động không tốt, thì chính phủ không nên sử dụng lãi suất thị  trường để chiết khấu thu và chi trong tương lai.

Đánh giá hàng hóa phi thị trường

Ở mục này, chúng ta xem xét một số vấn đề về đánh giá hàng hóa phi thị trường.

Thặng dư người tiêu dùng

Chúng tôi bắt đầu bằng ví dụ về việc chính phủ có thể đặt giá về nguyên tắc. Chính phủ đang cân nhắc để xây một cây cầu. Có thể thu thuế qua cầu. Đối với mỗi mức thuế, sẽ có một mức cầu nào đó sử dụng cây cầu. Giả sử rằng, quy mô tối thiểu khả thi của cây cầu ở mức giá là 0, thì sẽ có dư công suất như được thể hiện hình 10.1. Do đó, giá chính phủ có thể đặt là 0 (vì chi phí cận biên của việc sử dụng cầu lúc đó là 0); nhưng rõ ràng là giá trị của cầu là dương; cầu giúp cho mọi người tiết kiệm thời gian và họ sẵn sàng nộp lệ phí. Vấn đề là nộp bao nhiêu?

Mọi người được lợi bao nhiêu nhờ xây dựng cây cầu? Trước tiên, chúng ta vẽ đường cầu được bù đắp như trong hình 10.1. Đường cầu bù đắp này có thể suy ra cầu đối với bất kỳ hàng tiêu dùng nào khi hạ thấp giá, đồng thời lấy đi một phần thu nhập của cá nhân đủ để người đó không được lợi như khi còn được hưởng giá thấp hơn so với khi giá cao. Để thấy điều đó, trước tiên hãy đặt câu hỏi xem cá nhân đó sẵn sàng trả bao nhiêu tiền để sử dụng cầu 1 lần, và sẵn sàng trả thêm bao nhiêu để sử dụng 2 lần…Bằng cách đặt ra những câu hỏi này, chúng ta có thể kẻ đường cầu bù đắp. Chúng ta gọi đường cầu bù đắp là vì với mỗi câu hỏi, chúng ta đều yêu cầu cá nhân so sánh phúc lợi của cá nhân đó lúc chưa có cây cầu và lúc sử dụng cây cầu một lần, hai lần, ba lần…

Cần phải phân biệt đường cầu bù đắp với đường cầu thông thường. Thường thường, khi hạ giá hàng thì cá nhân sẽ được lợi; còn khi tăng giá, cá nhân sẽ bị thiệt. Do đó, tại một điểm dọc theo đường cầu thông thường (hoặc không bù đắp) phúc lợi của cá nhân đều khác. Dọc theo đường cầu bù đắp, khi chúng ta thay đổi giá, chúng ta cho thấy bớt hoặc cho thêm thu nhập cá nhân, để giữ cho cá nhân luôn ở mức lợi ích không đổi.

Lợi ích của việc xây dựng cây cầu là phần dưới đường cầu bù đắp và được gọi là thặng dư người tiêu dùng.

Những vấn đề suy luận 

Một vấn đề trọng tâm trong phân tích lợi ích – chi phí xã hội, như đã thấy, là nhiều loại chi phí và lợi ích không mua bán được. Mặc dù, đối với một số hàng hóa tiêu dùng do chính phủ sản xuất ra, chẳng hạn như điện, có giá cả do thị trường định rõ nhưng không có giá cả thị trường cho cuộc sống an toàn, cho không khí trong lành hay những dòng sông không bị ô nhiễm.

Đánh giá thời gian

Câu ngạn ngữ “thời gian là tiền bạc” đã miêu tả quan điểm đa số của các nhà kinh tế trong việc đánh giá tiết kiệm thời gian nhờ cải thiện hệ thống giao thông, chẳng hạn như một hệ thống tốt đường xe điện ngầm hay mạng lưới đường bộ. Quan điểm thông thường là cố gắng đánh giá mức lương của những người sử dụng hệ thống giao thông; trong một số điều kiện lý tưởng nhất định, tiền lương là thước đo đánh giá của cá nhân về thời gian của họ. Trong các mô hình kinh tế đơn giản cá nhân đã được phác họa khi thực hiện lựa chọn giữa thời gian giải trí và thời gian làm việc. Do bỏ thêm một giờ giải trí, người đó đã tăng được lượng hàng hóa tiêu dùng với tiền lương một giờ. Tại điểm cân bằng, cá nhân đó bàng quan khi lựa chọn giữa việc bỏ thêm một giờ nghỉ ngơi với tăng tiêu dùng lên lượng tiền lương một giờ, hoặc giảm bớt công việc trong một giờ và giảm tiêu dùng với một lượng ngang bằng tiền lương một giờ. Do đó, tiền lương của anh ta là giá trị bằng tiền của thời gian của anh ta.

Một số người nói như vậy là đánh giá quá cao giá trị của thời gian: nhiều cá nhân muốn làm việc nhiều hơn mức lương hiện hành, nhưng không thể tìm được thêm việc với mức lương đó; công việc hạn chế số giờ mà họ có thể làm. Đánh giá của cá nhân về thời gian rỗi của họ vì thế mà khá thấp. Theo quan điểm này, phần bù đắp đối với việc giảm thời gain giải trí của cá nhân trong một giờ là thấp hơn nhiều so với tiền công cá nhân có thể nhận.

* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
_________