Thất bại của cạnh tranh


17-9-2012 (VF) –  Để bàn tay vô hình hoạt động được, cần phải có cạnh tranh. Trong một số ngành như ô tô, nhôm, phim chụp ảnh, chỉ có rất ít hãng hoặc một hai hãng chiếm tỷ trọng thị trường khá lớn. (Khi chỉ có một người cung cấp trên thị trường, chúng ta nói rằng người đó độc quyền). Đó là thiếu cạnh tranh mạnh mẽ. Tuy nhiên, chỉ có một số ít hãng trong một ngành không nhất thiết có nghĩa là các hãng không cạnh tranh với nhau. Nếu có nhiều hãng có tiềm năng tham gia (trong nước hoặc nước ngoài) thì những hãng hiện hữu không thể độc quyền; chừng nào các hãng hiện hữu cố gắng chiếm lợi nhuận độc quyền, thì một hãng có tiềm năng có thể tham giao vào thị trường và làm cho giá hạ xuống.

Khó khăn thứ hai trong việc xác định xem thị trường có cạnh tranh hay không, nảy sinh từ vấn đề xác định thị trường. Hãng Dupont có thể chiếm độc quyền về giấy bóng kính, hay nói rộng ra là các loại chất liệu bóng trong. Nhưng có các loại giấy gói khác, như giấy mầu nâu có thể thay thế được và bắt buộc Dupont phải cạnh tranh.

Khi chi phí vận tải cao thì thị trường tương ứng có thể bị hạn chế về mặt địa lý. Mặc dù có nhiều công ty xi măng ở Hoa Kỳ, người tiêu dùng xi măng ở Dbuque, ở Iowa, vẫn không thể có được giá xi măng tổng hợp rẻ hơn ở Ohio. Nếu chỉ có một hãng xi măng duy nhất ở một vùng nào đó, sẽ không có cạnh tranh (hoặc có thì cũng rất thấp).

Một số hãng độc quyền do Chính phủ tạo ra. Chính phủ Anh cho Công ty East India quyền đặc biệt trong việc buôn bán với Ấn Độ. Đồng thời, hệ thống quyền sáng chế cho các nhà sáng tạo độc quyền đối với những phát minh của họ trong một thời gian nhất định.

Trong những trường hợp khác, có những hàng rào hạn chế tham gia, nảy sinh từ cái mà các nhà kinh tế quy cho là tăng lợi nhuận theo quy mô. Đó là những trường hợp khi chi phí sản xuất (cho một đơn vị sản phẩm) giảm theo quy mô sản xuất. Sẽ ít đắt hơn nếu có máy phát điện lớn hơn phục vụ một quận, hơn là cho mỗi phường một máy nhỏ. Do đó, có thể sẽ hiệu quả hơn nếu chỉ có một máy phát điện phục vụ cho cả một thị trường địa phương. Tương tự, có thể sẽ hiệu quả hơn nếu chỉ có một công ty điện thoại phục vụ cho một thị trường, hay một công ty cấp nước (hãy hình dung là việc tăng gấp đôi đường dây điện, dây điện thoại, đường ống nước, nếu mỗi gia đình sử dụng điện thoại, điện, nước của các công ty điện, nước, điện thoại khác nhau). Trong những ngành hiệu quả tăng quy mô, những hãng mới, có sản lượng thấp, sẽ gặp tình trạng chi phí cao hơn các hãng có công suất lớn.

Khi một hãng chiếm được độc quyền do tăng hiệu quả theo quy mô, chúng ta gọi đó là độc quyền tự nhiên. Việc thị trường có đặc điểm độc quyền tự nhiên hay không, phụ thuộc vào các điều kiện. Do đó, việc phát triển các công  nghệ viễn thông mới đã dẫn đến giảm độc quyền tự nhiên của hãng AT&T đối với các dịch vụ điện thoại từ xa.

Nếu việc tham gia và ra khỏi thị trường là vô giá, thì ngay cả các hãng độc quyền tự nhiên cũng có hãng khác sẽ tham gia. Nhưng Chính phủ ít khi dựa vào điều đó. Ở Hoa Kỳ, một số hãng độc quyền tự nhiên đã bị quản lý, đó là các hãng dịch vụ điện thoại và điện. Một số hãng độc quyền tự nhiên khác do chính Chính phủ điều hành trực tiếp. Các công ty cấp nước thường do nhà nước làm chủ và có một sô công ty điện dân dụng (bao gồm cả Tennessee Valley Authorrity). Ở tất cả các nước, bưu điện là công cộng (mặc dù việc tư nhân hóa một số dịch vụ của bưu điện đang phát triển nhanh chóng, chẳng hạn như dịch vụ chuyển bưu phẩm qua đêm). Tuy nhiên, Hoa Kỳ là trường hợp ngoại lệ, hệ thống điện thoại do tư nhân cung cấp. Ở hầu hết các nước, dịch vụ điện thoại do  nhà nước cung cấp.

Định giá độc quyền và mất mát phúc lợi do độc quyền

Chúng ta đã ghi nhận rằng trong một số điều kiện nhất định, việc chỉ có một hãng sản xuất có thể có hiệu quả hơn nhiều so với có nhiều hãng. Vậy thì tại sao độc quyền thường bị coi là điều xấu? Lý do là nếu không được quản lý, độc quyền (dù là độc quyền tự nhiên hay không) sẽ hạn chế sản lượng để đạt được giá cao hơn.

Vì chủ hãng tìm cách tăng tối đa lợi nhuận, nên chỉ sản xuất tới điểm mà thu nhập tăng thêm mà ông ta sẽ nhận được do sản xuất thêm 1 đơn vị đúng vừa bằng chi phí tăng thêm do sản xuất ra đơn vị tăng thêm đó (tức là chi phí cận biên). Thu tăng thêm mà ông ta nhận được gọi là thu nhập cận biên. Đối với địch thủ cạnh tranh hoàn hảo, thu nhập cận biên chính là giá bán. Nhưng đối với nhà độc quyền thì thu nhập cận biên ít hơn giá bán. Chừng nào nhà độc quyền tăng doanh số, ông ta biết rằng ông ta sẽ phải hạ giá xuống. Thu nhập mà ông ta nhận được do bán thêm 1 đơn vị bằng giá đơn vị đó sẽ ít hơn thu nhập trước, vì việc tăng doanh số làm hạ giá bán tất cả các đơn vị hàng hóa.

Hình 3.5 miêu tả đường thu nhập cận biên và dường cầu mà nhà độc quyền gặp phải. Ở phần A, chúng ta giả định rằng chi phí cận biên sản xuất là có định tại tất cả các mức sản lượng. Nhà độc quyền sản xuất ở mức Q*, ở đó thu nhập cận biên bằng chi phí cận biên. Rõ ràng sản lượng ở Q* thấp hơn ở mức Q1, khi giá bằng chi phí cận biên. Lưu ý rằng tại Q*, mức giá do việc cá nhân đánh giá đơn vị hàng hóa tăng thêm cao hơn chi phí cận biên. Vì thế chúng ta nói có sự mất mát phúc lợi do hạn chế sản lượng do độc quyền gây ra.

Hình 3.5A

Hình 3.5.B

Hình 3.5 Định giá độc quyền.
Sản lượng độc quyền thấp hơn sản lượng cạnh tranh, hoặc sản lượng mà tại đó lợi nhuận bẳng 0.
Đó là mất mát phúc lợi.

Ở phần B, chúng ta giả định rằng chi phí sản xuất cận biên giảm xuống khi sản lượng tăng; đó chính là điều chúng tôi muốn ngụ ý tăng lợi nhuận theo quy mô. Do chi phí cận biên thấp hơn chi phí trung bình, cho nên giá được định bằng với chi phí cận biên, tại Q2, và có thể làm cho hãng bị lỗ. Q1 là sản lượng cao nhất, tại mức đó hãng hòa vốn, vì tại mức sản lượng này, chi phí trung bình bằng thu nhập trung bình trên 1 đơn vị sản phẩm (là giá). Việc sản lượng có hiệu quả Pareto hay không khi sản lượng là Q2, hay  ở mức nào đó thấp hơn, phụ thuộc vào việc lỗ của hãng sẽ được bù đắp như thế nào. Nói chung, chúng ta chỉ có thể nói rằng sản lượng hiệu quả sẽ nằm ở khoảng giữa Q1 và Q2. Tuy nhiên, nhà độc quyền sẽ tiếp tục hạn chế sản lượng, xuống tới mức Q*. Một lần nữa lại bị mất phúc lợi do sự hạn chế này. Ở Chương 18, chúng tôi sẽ chỉ ra việc đo sự mất phúc lợi này như thế nào do hạn chế sản lượng của độc quyền.

__
* Joseph E. Stiglitz (Người dịch: Nguyễn Thị Hiên và những người khác), 1995, Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật
__