Thực trạng ngành gốm sứ Việt Nam


13-12-2012 (VF) – Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải Quan, năm 2011 cả nước đã xuất khẩu được 358,6 triệu USD sản phẩm gốm sứ, tăng 13,15% so với năm 2010.

Tình hình xuất nhập khẩu

Trong các thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam, có nhiều thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 10 triệu USD như Hàn Quốc, Malaysia, Pháp, Đức, Nhật, Hoa Kỳ, … Trong đó Nhật Bản là thị trường có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, chiếm 14,7% thị phần kim ngạch xuất khẩu (Vinanet, 29-2).

Thống kê thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ năm 2011
Đơn vị: USD

KNXK năm 2011 KNXK Năm 2010 % +/- KN so năm 2010
Trị giá 358.625.582 316.933.450 13,15
Nhật Bản 52.928.616 37.857.542 39,81
Đài Loan 40.216.835 32.908.220 22,21
Hoa Kỳ 36.279.219 33.035.918 9,82
Thái Lan 24.638.001 14.538.011 69,47
Đức 24.494.204 28.004.490 -12,53
Campuchia 20.930.720 15.858.484 31,98
Pháp 19.089.427 17.703.291 7,83
Oxtrâylia 17.765.757 14.446.436 22,98
Hàn Quốc 12.306.003 11.298.726 8,91
Malaixia 11.443.798 9.343.884 22,47
Anh 9.563.580 9.340.534 2,39
Hà Lan 5.356.151 6.822.069 -21,49
Đan Mạch 4.696.103 3.894.019 20,60
Canada 3.727.315 3.621.967 2,91
Italia 3.175.658 2.923.093 8,64
Tây Ban Nha 2.979.201 3.671.258 -18,85
Thuỵ Sỹ 2.953.406 3.373.830 -12,46
Nga 2.553.913 2.030.203 25,80
Bỉ 2.460.194 3.873.604 -36,49
Thuỵ Điển 1.879.613 2.037.690 -7,76
Trung Quốc 1.322.112 1.850.612 -28,56

Nguồn: Vinanet

Trong 6 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam đạt 205,7 triệu USD, tăng 22,09% so với cùng kỳ năm trước (Vinanet, 25-7).

Thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ 6T.2012
ĐVT: USD

 

KNXK T6.2012

KNXK 6T.2012

KNXK 6T.2011

% +/- KN so T6.2011

% +/- KN so cùng kỳ

Tổng KN

36.867.370

205.741.499

168.521.867

22,03

22,09

Nhật Bản

5.820.607

33.251.668

23.023.873

49,07

44,42

Đài Loan

5.007.716

24.518.433

17.747.486

48,40

38,15

Đức

1.423.552

10.722.915

12.465.334

-5,92

-13,98

Oxtrâylia

1.687.973

8.439.111

8.273.338

-2,77

2,00

Hàn Quốc

1.477.613

7.973.377

5.522.360

46,06

44,38

Anh

559.568

5.732.975

5.604.630

110,99

2,29

Pháp

1.599.334

4.866.582

6.251.743

-36,58

-22,16

Hà Lan

342.361

2.780.155

2.550.861

-32,05

8,99

Canada

152.692

2.588.080

2.437.896

-0,05

6,16

Đan Mạch

116.701

2.138.004

2.684.286

-29,58

-20,35

Hoa Kỳ

2.288.524

2.074.352

19.494.072

-9,00

-89,36

T.B. Nha

173.526

1.769.877

1.223.720

17,28

44,63

Bỉ

174.826

1.759.451

1.358.970

147,25

29,47

Nga

307.862

1.635.317

1.048.812

170,68

55,92

Italia

218.312

1.228.049

1.523.824

-38,15

-19,41

Thuỵ Điển

64.275

1.211.888

952.937

-59,90

27,1

Nguồn: Vinanet

Cạnh tranh ngày càng gay gắt

Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, ngành gốm sứ Việt Nam đang gặp phải thách thức: đó là sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt.

Theo thống kê, mỗi năm, tổng doanh số toàn thị trường gốm sứ gia dụng Việt Nam đạt bình quân khoảng 5.600 tỷ đồng nhưng hàng gốm sứ gia dụng Việt chỉ chiếm 30% thị phần cả nước, trong khi 70% thị phần lại thuộc về hàng Trung Quốc (DĐDN, 12-12)

Mặc dù Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc trong tốp 5 quốc gia xuất khẩu gốm sứ hàng đầu trên thế giới, nhưng tổng giá trị xuất khẩu hàng gốm sứ Việt Nam lại kém hơn 3,5 lần. Gốm sứ Việt Nam tuy xuất sang nhiều quốc gia hơn nhưng chỉ đạt tổng giá trị khoảng 190 triệu USD, trong khi Trung Quốc đạt trên 694 triệu USD (Đại đoàn kết, 11-10-2010).

Theo Hiệp Hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam, mặc dù Việt Nam đang đứng thứ 6 trong tốp 10 nước sản xuất gạch ốp lát hàng đầu thế giới nhưng đến thời điểm hiện tại, ngành gạch ốp  lát Việt Nam chỉ phát huy được khoảng 70% công suất và liên tục tồn kho hàng. Nhiều doanh nghiệp lớn sản xuất gốm xuất khẩu hiện trong tình trạng sản xuất cầm chừng trong khi các cơ sở, doanh nghiệp nhỏ đã ngừng hẳn hoạt động do các chi phí đầu vào cho sản xuất đều tăng cao (Vinanet, 28-10-2011).

Rào cản đối với ngành sản xuất gốm sứ: 

-  Đối với sản phẩm gốm sứ gia dụng (DĐDN, 12-12):

  • Do truyền thống sản xuất thủ công nên sản lượng sản xuất ra còn hạn chế
  • Giá thành còn cao so với sản phẩm gốm sứ Trung Quốc tràn lan trên thị trường hiện nay
  • Hệ thống phân phối hàng trong nước còn xé lẻ, chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước nên không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc
  • Các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức nhu cầu của khách hàng (giá cả, chất lượng, mẫu mã)

-   Đối với sản phẩm gốm sứ xuất khẩu:

  • Các sản phẩm gốm sứ Trung Quốc với chi phí thấp đã chi phối các kênh phân phối tại các nước phát triển, thống lĩnh nhiều thị trường.
  • Các doanh nghiệp gốm sứ có quy mô vừa và nhỏ chưa nắm bắt kịp thời các nhu cầu của thị trường, chưa quan tâm đến các dịch vụ hỗ trợ, xây dựng thương hiệu trên thương trường quốc tế để tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
  •  Sự biến động của giá nhiên liệu thường xuyên tăng cao.

-   Đối với sản phẩm gốm sứ xây dựng:Các doanh nghiệp trong nước chịu sức ép cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa bởi các sản phẩm ngoại nhập (Đại đoàn kết, 11-10-2010).

Như vậy, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để ngành gốm sứ Việt Nam phát triển hơn nữa thì việc nâng cao chất lượng, tạo sự khác biệt cho sản phẩm là một trong những yếu tố cần thiết.