Thủy điện Việt Nam: Các vấn đề tồn tại


6-12-2012 (VF) – Thủy điện chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất điện và đóng một vai trò quan trọng cho an ninh năng lượng quốc gia. Tính đến nay, cả nước có khoảng 1.100 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt gần 26.000MW, trong đó có 107 dự án thủy điện vừa và lớn, và khoảng 990 dự án vừa và nhỏ với tổng công suất khoảng 7.500MW (Người lao động, 1-12).Ước tính đến năm 2020, tổng công suất thủy điện cả nước sẽ đạt 17.400MW, chiếm 23,1% tổng nguồn điện năng quốc gia (TN&NL, 11-5).

Tuy nhiên, việc phát triển thủy điện tràn lan thời gian qua đã bộc lộ nhiều bất ổn và hậu quả xấu như thiếu tính bền vững và bất cập trong công tác quản lý xây dựng và vận hành.

Thiếu tính bền vững

Theo Báo cáo khoa học về quản lý ô nhiễm môi trường của sở TN & MT Lâm Đồng năm 2010, ước tính 1MW thủy điện sản xuất ra phải mất 16ha rừng. Số liệu từ Bộ NN & PTNTngày 31-10-2012 cũng cho thấy “từ năm 2006 đến nay, thủy điện đã lấy gần 20.000ha rừng trên cả nước, trong đó có tới trên 7.500ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ” (SGTT, 5-12). Ước tính đến năm 2020, diện tích rừng bị mất sẽ là 651.996ha (Người lao động, 1-12).

Bên cạnh việc mất diện tích rừng, các công trình thủy điện còn làm thay đổi hệ sinh thái trên sông, làm mất diện tích đất canh tác, và đặc biệt ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân ở khu vực thủy điện.

Bất cập trong công tác quản lý xây dựng và vận hành

Sai lầm trong chủ trương và quản lý các công trình thủy điện ở nước ta đó là không bố trí nhiệm vụ cắt giảm lũ cho hạ lưu. Hơn 90% công trình thủy điện trên cả nước chưa thể đảm nhận nhiệm vụ điều tiết lũ vào mùa mưa và điều tiết nước cho vùng hạ lưu vào mùa khô hạn. Do đó, nhiều địa phương đã phải gánh chịu thiên tai lớn do vận hành công trình thủy điện không đúng quy trình (TN&NL, 11-5).

Thêm vào đó, hầu hết các quy hoạch thủy điện tại Việt Nam đều thực hiện trước khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời. Vì vậy, việc quy hoạch các hồ chứa vẫn chưa thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; do đó chưa đánh giá đầy đủ những tác động mà dự án gây ra, nhất là đến tài nguyên nước. Việc phân cấp quy hoạch hồ chứa vừa và nhỏ thường thiếu sự phối hợp kiểm tra giám sát của các ngành ở Trung ương (SGTT, 4-12).

Không thể phủ nhận là nguồn lơi từ thủy điện rất lớn. Tuy nhiên, trước những vấn đề tồn đọng của thủy điện Việt Nam hiện nay, Việt Nam cần kiểm soát chặt chẽ các tác động của việc xây dựng các công trình thủy điện đồng thời cần có một kế hoạch phát triển bền vững khi xây dựng các công trình thủy điện, hạn chế sự phát triền tràn lan và những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sinh kế của người dân (TN & NL, 11-5).

________
Liên quan: