Về số phận EU, euro: Thị trường tài chính, chính trị và thực tế mới


7-8-2012 (VF) — VietFin giới thiệu bài viết thú vị sau đây của G. Friedman (sáng lập Stratfor) bàn về sự thay đổi mô thức thị trường do cuộc khủng hoảng tài chính EU và đồng euro đem lại, cùng với sự tái hiện của hiệu lực “kinh tế chính trị” trong thời kỳ mới. Đây không phải là bản dịch mà là lược ý và bổ sung những chú giải cần thiết để làm sáng rõ ý của Friedman.

Louis M. Bacon là sếp của một trong những hedge fund lớn và có ảnh hưởng nhất thế giới, tên gọi Moore Capital Management. Mới tuần trước, ông thông báo sẽ hoàn lại 1/4 tổng số vốn đầu tư cho các cổ đông quỹ, khoảng 2 tỷ đôla. Ông nêu lý do với The New York Times là hiện giờ rất khó dự liệu tình hình châu Âu nên không thể đầu tư.

Ông cho rằng: “Sự can dự chính trị đã trở nên thái quá, chưa từng thấy kể từ thời kỳ sau chiến tranh. Họ đang chặn đứng quá trình diễn ra các kết cục tự nhiên của thị trường. Thật kinh ngạc khi nhận thấy mức độ quan trọng của quyết định sinh ra từ một cá nhân duy nhất, bà Angela Merkel, đối với các thị trường thế giới.”

Dĩ nhiên hedge fund sinh ra là để kiếm tiền. Theo ý Bacon một khi sự can dự chính trị thái quá như vậy, sẽ làm tăng tính bất ổn, giảm khả năng dự liệu diễn biến thị trường và không ai có thể kiếm tiền được nữa. Vai trò của hedge fund trở nên quan trọng với quá trình phân bổ nguồn tài lực toàn cầu vì khả năng gây ảnh hưởng của các quỹ đầu tư mềm dẻo này lên các “diễn viên” khác trên sân khấu tài chính. Một khi họ ngần ngại đầu tư và giao dịch tài sản tài chính, điều này sẽ gây cản trở lớn tới dòng chảy tài chính. Nếu các quỹ khác cũng theo chân Moore Capital, và chắc là họ sẽ làm theo, khả năng gọi vốn để giải quyết vấn nạn tài chính của châu Âu hiện nay sẽ trở nên khó khăn bội phần so với hiện tại.

Nhưng điều đáng chú ý hơn cả là cách lập luận. Theo đánh giá của Bacon, cốt lõi chính là các quyết định chính trị rất bất trắc, khó dự đoán, khó hơn nhiều so với các quyết định kinh tế. Thay vì coi bà Thủ tướng Đức Merkel như là “tù binh” của các thế lực khách quan đang thúc ép các quyết định của bà, các nhà đầu tư truyền thống dường như có cảm giác toàn bộ châu Âu đang phụ thuộc vào sự ngẫu hứng của Merkel.

Nếu hiểu được những “khách thể” đứng sau các quyết định quan trọng đó, cũng có thể phần nào dự đoán những hành vi chính trị sắp xảy ra, theo cách hiểu từ hành vi thị trường. Dĩ nhiên cả hai kiểu dự đoán này đều không phải là môn khoa học chính xác, nhưng nếu được thực hành có phương pháp, việc hiểu hơn bản chất không hẳn là không thể.

Kinh tế chính trị

Ta phải bắt đầu với 2 thứ cần thấu hiểu. Thứ nhất, chính trị và thị trường luôn tương tác với nhau.

Chính cái nền tảng của thị trường — các công ty trách nhiệm hữu hạn — là một yếu tố đầy tính chính trị. Điều mà mọi người cho là đương nhiên này (*VF: một loại thực thể mặc nhiên đã tồn tại với các tính chất đã quy ước) lại chính là một sáng chế có tính chính trị, nhằm cho phép giới hạn tổn thất tài chính của nhà đầu tư trong các giao dịch thương mại trong phạm vi đóng góp của mình.

Vậy rõ ràng đây là một quy định có tính pháp lý, và do chính trị gia phê chuẩn. Bản thân cấu trúc rủi ro trong xã hội kinh tế hiện đại cũng xoay xung quanh khái niệm công ty, và công ty cũng là một sản phẩm hoàn toàn nhân tạo của hệ thống chính trị, có liên quan mật thiết tới rủi ro. Chẳng có yếu tố gì gọi là “tự nhiên” trong hệ thống điều luật một quốc gia về các công ty cả. Những luật điều chỉnh sự ra đời và chế tài các công ty cũng chính là thứ định nghĩa nên các thị trường!

Vậy thì có những khoảng thời gian, hệ thống chính trị để mặc kệ cho các luật ấy vận hành mà không can thiệp, sửa đổi gì. Nhưng lại có những lúc họ xông vào nắn, chỉnh chúng.

Thế hệ mới đây nhất (*VF: Có thể tính là giai đoạn thịnh vượng trước 2008) chính là khoảng thời gian hiếm hoi của lịch sử nhân loại mà tại đó sự thịnh vượng của thị trường cho phép các hệ thống luật rất ổn định và về cơ bản gần như không thay đổi gì đáng kể.

Nhưng sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xổ tung ra năm 2008, tính ổn định của giai đoạn trước đó không thể tồn tại được nữa.

Vậy nhưng xét lịch sử toàn cục ta sẽ thấy sự can dự chính trị chủ động vào vận hành thị trường mới là tình trạng phổ biến; và sự ổn định không can thiệp của giai đoạn trước mới là ngoại lệ. Các nhà đầu tư đã xem ngoại lệ – hình thành trong cả giai đoạn ấy – như một đặc tính phổ quát của thị trường. Do vậy khi biến loạn xảy ra, các NĐT rất khó thích ứng với những mức gia tăng rủi ro mà các thế hệ đầu tư xưa kia cảm thấy không xa lạ và thích ứng linh hoạt hơn.

Nhận thức sâu thứ hai là những nhà tư tưởng như Adam Smith và David Ricardo, vốn được đánh giá cao, hiểu rõ các vấn đề này. Những tác giả lớn này không bao giờ chỉ sử dụng riêng thuật ngữ “economics” (kinh tế học) mà luôn đặt nó vào trong mối liên hệ với chính trị; họ gọi chủ đề được bàn bạc là “kinh tế chính trị” (political economy).

Bản thân thuật ngữ “kinh tế” không tồn tại một cách độc lập (tức là đứng riêng như một khái niệm hoàn chỉnh) cho tới tận những năm 1880s, là khi những nhà nghiên cứu thuộc trường phái vẫn gọi là “marginalists” nỗ lực toán học hóa những nghiên cứu kinh tế học và phân lập hóa kinh tế khỏi địa hạt chính trị để trở thành một lĩnh vực khoa học xã hội độc lập.

Việc định lượng hóa kinh tế và tài chính đã dẫn tới cách nghĩ — mà Smith và những người phát minh ra kinh tế học hiện đại không bao giờ nhất trí — rằng thực sự tồn tại một địa hạt kinh tế học riêng rẽ mà ở đó chính trị không có sự can dự và rằng toán học có thể khiến cho các thị trường trở nên dễ dự báo hơn nếu như chính trị không tìm cách nhúng mũi vào công việc thị trường.

Nếu ta hiểu rằng chính và kinh tế chẳng bao giờ có thể tách rời nhau, thì toán học không có nhiều năng lực dự báo như ta vẫn thường nghĩ. Những phân tích siêu lượng về thị trường, thường lãng quên các cân nhắc quyết định chính trị có sức ảnh hưởng siêu nặng, đã góp phần làm trầm trọng thêm những chao đảo rung lắc của thị trường.

Kinh tế gia và giới tài chính thường chúi mũi vào các con số thay vì xem xét những hậu quả chính trị của các con số đó và cũng quên bẵng cả những quá trình “định nghĩa lại” có tính chính trị các quy tắc, điều lệ áp đặt lên các tay chơi của sàn đấu kinh tế. Như ta thấy, chính các chính trị gia đã đặt ra các điều lệ, quy tắc và bây giờ họ vẫn còn nguyên quyền sửa đổi chúng.

Thế giới này không hẳn là không thể dự báo; châu Âu hay nước Đức thì cũng vậy thôi. Vấn đề đặt ra không phải là chính trị gia nói họ muốn gì, cũng chẳng phải là ước muốn thầm kín mà họ không chịu thốt ra lời. Trên thực tế, mấu chốt của dự báo các quá trình chính trị là hiểu rõ những ràng buộc hạn chế quyền lực của giới chính trị; tức là những thứ gì mà chính trị không thể làm, những giới hạn họ không thể vượt qua.

Các nhà đầu tư cho rằng thị trường khó dự báo vì sự can dự chính trị đã nhắm trượt 2 điểm trọng yếu. Trước tiên, chẳng có thị trường nào độc lập với chính trị. Tiếp đến, cả chính trị lẫn kinh tế đều là những nỗ lực tả xung hữu đột của chính con người, vì thế cơ bản cả 2 lĩnh vực này đều có thể dự báo được.

Cộng đồng châu Âu (EU) sinh ra vì các lý do chính trị. Những cân nhắc kinh tế là một phương tiện đi đến mục tiêu nhằm ngăn chặn chiến tranh tàn phá châu Âu, như những gì đã xảy ra nửa đầu thế kỷ XX.

Vậy mấu chốt là phải kết nối nước Đức và Pháp vào một liên minh “không thể tan vỡ” dựa trên lời hứa về sự thịnh vượng kinh tế. Những tay chơi kinh tế không hiểu rõ nguồn gốc chính trị của EU và chỉ chúi mũi vào những dự định kinh tế được phát biểu ầm ĩ cũng chẳng bao giờ hiểu nổi cách thức EU vận hành và luôn bị diễn biến của sân khấu chính trị EU làm cho giật mình thon thót.

Thực tế đã diễn ra là EU sau chiến tranh đã vận động với một nước Đức lấy lại được vai trò đã có trước khi thế chiến nổ ra; một siêu quyền lực về xuất khẩu hàng hóa. Với người Đức, những phiên bản ban đầu của sự hợp nhất hóa châu Âu trở thành nền tảng cho giải pháp hóa giải các vấn nạn của nước Đức, đó chính là năng lực sản xuất Đức vượt xa sức tiêu thụ của cư dân Đức. Đức buộc phải xuất khẩu để duy trì nền kinh tế vận hành ổn định, và bất kỳ rào cản nào với XK của Đức đều đe dọa tới lợi ích thiết thân của Đức. Việc ra đời khu vực mậu dịch tự do châu Âu là sự cấp thiết rất căn bản, và càng nhiều nước tham gia khu vực mậu dịch này, nước Đức càng có nhiều thị trường. Do vậy, chính Đức chứ không phải nước nào khác rất xông xáo trong việc ủng hộ mở rộng khu vực mậu dịch EU.

Đức cũng là quốc gia ủng hộ nhiệt thành việc tạo ra các chuẩn mực chung cho châu Âu như chính sách tuyển dụng, môi trường, v.v.. Các chính sách này có tác dụng bảo vệ các hãng chế tạo của Đức, vì chúng gây ra chi phí lớn chỉ các hãng lớn mới gánh nổi, và như thế ngăn ngừa cuộc tấn công của các hãng nhỏ có tính khởi nghiệp cạnh tranh vốn rất đông đảo từ khắp các góc châu Âu. Việc làm tăng vọt chi phí “gia nhập thị trường” là một thành tố vô cùng hữu hiệu và quan trọng trong chiến lược của nước Đức.

Cuối cùng, nước Đức là “nhà vô địch” của đồng euro (*VF: đồng tiền có tính chất pháp định của nhóm các quốc gia thành viên khối eurozone), một đồng tiền chung kiểm soát bởi một ngân hàng duy nhất mà Đức dĩ nhiên có quyền gây tác động mạnh nhất, do đóng góp kinh tế vào đó. Một đồng tiền chung với chức năng hạn chế lạm phát đã bảo vệ các ông chủ tín dụng Đức khỏi nguy cơ các quốc gia châu Âu khác gây lạm phát từ bên trong nền kinh tế riêng để làm giảm áp lực nợ. Món nợ giờ đây được ấn định bởi đồng euro. Ngân hàng Trung ương châu Âu ECB (*VF: “Người cho vay cuối cùng” của khối eurozone.) kiểm soát giá trị đồng tiền này, và các nước thuộc hay không thuộc eurozone bị mắc kẹt trong cái hệ thống chính sách tiền tệ gắt gao này.

Tuy vậy, nếu sự thịnh vượng kinh tế cứ diễn ra, thì các vấn đề có thể che giấu đi được. Nhưng cuộc khủng hoảng 2008 đã làm cái kim trong bọc phải lòi ra. Thứ nhất, hầu hết các nước EU đều bị thâm hụt thương mại nặng nề với Đức. Thứ hai, chính sách tiền tệ EU chỉ nhăm nhe bảo vệ lợi ích kinh tế của Đức và Pháp (ở mức độ yếu hơn hẳn). Thể chế lập pháp của khối này tạo ra sự xơ cứng hệ thống, và sự xơ cứng này được thiết kế để bảo vệ các công ty lớn.

Chính sách của bà Merkel trong các tình huống này là do bà ta bị ép phải làm, đối mặt với thực tế. Đức phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu, và XK của Đức trong nội khối EU là quan trọng nhất.

Bà ta buộc phải đảm bảo khu vực mậu dịch tự do này vẫn tồn tại (ở trạng thái ngăn nắp) và bên cạnh đó phải tối thiểu hóa chi phí nền kinh tế Đức phải chịu trong trách nhiệm gánh vác ổn định lại toàn khối, bằng cách đẩy bớt chi phí sang cho các quốc gia khác.

Bà ta cũng phải thuyết phục nhân dân Đức rằng cuộc khủng hoảng này sinh ra bởi những người Nam Âu chỉ biết tiêu xài hoang phí và rằng bà sẽ không cho phép những người hoang phí này lợi dụng những người dân Đức.

Nhưng sự thật là cuộc khủng hoảng được tạo ra bởi chính nước Đức với hành vi lợi dụng hệ thống EU để gây ngập úng toàn khu vực với hàng hóa Đức, qua hành vi ngăn chặn cạnh tranh tự do một cách chính thống bằng luật lệ, và với mỗi đồng euro đi vay một cách bất cẩn, chính là một đồng euro được cho vay ra một cách thiếu cân nhắc. Giống như một chính trị gia điệu nghệ, bà Merkel phịa ra một câu chuyện thần bí về người Hy Lạp xảo trá đã lừa được một nhà tài chính tinh tường của Deutsche Bank.

Tuy thế, nhìn từ góc hùng biện, chính sách của Merkel rất rõ. Một, dù thế nào bà cũng không cho phép bất kỳ quốc gia nào rời khỏi khu vực mậu dịch EU. Vì là một khi việc rời bỏ đó xảy ra, bà ta không còn khả năng dự báo tình hình còn có thể trượt xa tới đâu nữa, cứu nước đó có thể chấm dứt tai họa cho nước Đức của bà. Hai, vì lý do kinh tế và chính trị, bà buộc phải hung hăng tối đa trong dọa nạt các quốc gia con nợ, khổ nỗi lại không được hung hăng tới mức khiến họ sợ quá, tuyên bố phá sản và chạy trốn khỏi khu vực mậu dịch chung.

Nhưng Merkel đâu có quyền ra quyết định; bà ta chỉ diễn xuất trên kịch bản viết sẵn cho EU và Đức. Merkel sẽ tạo ra những cuộc khủng hoạng giúp vị thế chính trị nội bộ vững vàng hơn, làm dáng để có được những thỏa hiệp tốt nhất mà không buộc xảy ra sự tan rã, và cuối cùng cuối cùng sáng chế ra những thỏa thuận – không bao giờ được thực hiện – nhằm làm dịu vấn nạn kinh tế, cho tới một cuộc họp nào đó sẽ xảy ra sau này.

Rốt cục thì rồi người Đức cũng sẽ phải gánh các chi phí của cuộc khủng hoảng này thôi. Bà Merkel biết quá rõ điều này. Thế nên giờ phải thiết kế hệ thống mới thế nào để sau này Đức phải tận thu được từ cấu trúc mới. Bà quá hiểu rằng EU nền tảng của sự thịnh vượng châu Âu đang nứt vỡ. Giải pháp cho cấu trúc mới làm sao phải trao cho Brussels quyền giám sát ngân sách các quốc gia thành viên. Nỗ lực của bà để lấy lại sức mạnh của EU sau tái cấu trúc sẽ thất bại vì 2 lý do lớn. Thứ nhất, không nước nào muốn từ bỏ chủ quyền quốc gia, nhất là khi đây lại là các nước châu Âu có bề dày văn hóa, và việc từ bỏ chủ quyền tài chính lại để bị một nước Đức áp chế. Thứ hai, cả châu Âu biết rằng chẳng nước nào phải nhượng bộ gì cả bởi lẽ cuối cùng Đức hoặc phải gánh hết chi phí hoặc khu vực mậu dịch chung sẽ cáo chung.

Rõ ràng hoàn toàn có thể hiểu rõ hành vi của Merkel. Đức cần EU hơn bất kỳ nước nào khác. Đức không thể để EU tan thành mây khói. Vở kịch Hy Lạp rất tiêu biểu cho đánh giá này. Chính bà Merkel nằm ở trong bẫy, vẫn đang trong bẫy và vì thế bản thân hành vi của bà ta hoàn toàn có thể dự báo được.

Còn câu hỏi về đồng euro rất thú vị vì nó liên đới tới hệ thống ngân hàng. Nhưng khi tập trung vào đồng euro, các NĐT lại không hiểu rằng đó là vấn đề thứ yếu. EU là một tổ chức chính trị và sự thống nhất châu Âu mới là trọng yếu. Những kẻ chủ nợ buộc phải lo lắng gấp nhiều lần cho số phận tiền của họ, chứ chẳng phải con nợ.

Và cho dù vở kịch diễn trong bóng tối của ECB thế nào, những chủ nợ này cũng sẽ chỉ hành động nhỏ giọt, hà tiện nhất có thể, chỉ vừa đủ để tránh phá sản. Cuối cùng, cũng sẽ không phá sản. Đồng euro có thể là tài sản NĐT giao dịch, nhưng đó không phải mục đích của trò chơi được tạo ra. Trò chơi quan trọng chính là khu vực mậu dịch tự do EU và sự đoàn kết Đức-Pháp. Merkel đâu có ra quyết định dựa trên bản thân đồng euro!

Mậu dịch hiện đại

Vấn đề của các NĐT tài chính là họ giữ nguyên ấn tượng về đặc tính thời kỳ 1991-2008 và thực hành thời kỳ này, mong rằng những tính chất xưa kia sẽ quay lại.

Chúng ta sống trong thế giới kinh tế chính trị, và chính trị trở thành cơn sóng thủy triều, khiến cho những trông chờ vào chu kỳ và cơ hội kinh doanh kiểu như của giai đoạn 1991-2008 trở nên lạc lõng, và không còn thực tế nữa. Có vẻ như ta đang sống trong một thế giới mà bà Merkel quan trọng hơn một tay buôn tiền lão luyện.

Có vẻ vậy thôi, chứ Merkel làm sao mà quan trọng hơn được một tay buôn tiền. Cả hai đều bị mắc kẹt trong những ràng buộc và hạn chế. Nhưng một khi những ràng buộc ấy được nhận thức rõ, hành vi của Merkel dễ dự báo hơn. Vấn đề thực sự của hedge fund không phải là họ không hiểu các rắc rối đang diễn ra, mà chính là phương pháp họ tiến hành giao dịch trong quá khứ bây giờ không còn hiệu lực nữa. Không còn phương pháp thích ứng hữu hiệu, thì việc hiểu hệ thống chính trị và năng lực dự báo tốt đến mấy cũng không còn giá trị gì nữa.

Phương pháp gọi là giao dịch vận tốc cao, tức là giao dịch liên tục trên những khoảng chuyển động vi phân của diễn biến trong môi trường ổn định, dự báo được, không có tác dụng trong một giai đoạn ào ạt sóng thủy triều. NĐT của thế hệ trước chưa tìm ra được biện pháp kinh doanh có lãi trong bối cảnh này.

Cho dù ta cảm nhận thế nào về hoạt động của cộng đồng tài chính kể từ sau khủng hoảng 2007 thì vẫn cứ phải tồn tại một hệ thống phân bổ tài lực. Có thể nhà nước điều hành, nhưng có thừa bằng chứng khoa học cho thấy các nhà nước thường có trình độ kém cỏi trong các quyết định đầu tư. Nhưng mà thực tế cho thấy, hiệu quả của cộng đồng tài chính tư nhân cũng kém tới mức không chấp nhận đượct. Lập luận về phân bổ vốn tư nhân có thể chỉ đẹp về lý thuyết vì cũng chưa thấy kết luận thực chứng về mô hình tư nhân hữu hiệu nào trong những năm tái cơ cấu vừa qua.

Ta đang bước vào một thời kỳ mà các tác nhân chính trị sẽ lấn át các quyết định kinh tế. Đây là quy tắc trong suốt một thời kỳ dài của lịch sử, và những ai mong thời kỳ 1991-2008 lặp lại sẽ cảm thấy thất vọng vô cùng. Chính trị có thể dự báo được nếu ta hiểu những hạn chế mà theo đó một chính trị gia phải chấp nhận, và ta buộc phải không được tin rằng quyết định chính trị là tự thân của chính trị gia. Nhưng để hiểu điều đó, không được quên Adam Smith và luôn nhớ tựa cuốn sách của ông ta là Của cải các quốc gia. Nhớ rằng khi Smith đề cập tới kinh tế, ông ta viết về các quốc gia, về chính trị và kinh tế, tức là về kinh tế chính trị.


* G. Friedman “Financial Markets, Politics and the New Reality” August 7, 2012. Stratfor.